Wikisource
viwikisource
https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.33.0-wmf.13
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikisource
Thảo luận Wikisource
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Tác gia
Thảo luận Tác gia
Trang
Thảo luận Trang
Mục lục
Thảo luận Mục lục
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Tiện ích
Thảo luận Tiện ích
Định nghĩa tiện ích
Thảo luận Định nghĩa tiện ích
Đề tài
Bản mẫu:Dropcap
10
4783
67525
60029
2019-01-22T03:06:50Z
Vinhtantran
484
Vinhtantran đã đổi [[Bản mẫu:Dropinitial]] thành [[Bản mẫu:Dropcap]]: đổi tên cho dễ với người Việt, sử dụng trong ngôn ngữ in ấn tiếng Việt
wikitext
text/x-wiki
<includeonly><!--
--><span class="dropinitial" style="float:left; line-height:1.00em; <!--
-->{{#if:{{{z-index|}}}|z-index:{{{z-index}}}; position:relative; |}}<!--
-->font-size:{{#if:{{{font-size|{{{2|}}}}}}|{{{font-size|{{{2|}}}}}}|3.00em}}; <!--
-->margin:{{#if:{{{margin-top|{{{3|}}}}}}|{{{margin-top|{{{3|}}}}}}|0.00em}} <!--
-->{{#if:{{{margin-right|{{{4|}}}}}}|{{{margin-right|{{{4|}}}}}}|0.10em}} <!--
-->{{#if:{{{margin-bottom|{{{5|}}}}}}|{{{margin-bottom|{{{5|}}}}}}|0.00em}} <!--
-->{{#if:{{{margin-left|{{{6|}}}}}}|{{{margin-left|{{{6|}}}}}}|0.00em}}; <!--
-->text-indent:{{#if:{{{text-indent|{{{7|}}}}}}|text-indent|0.00em}};"><!--
-->{{#if:{{{fl|}}}|<span style="font-size:40%; position:relative; top:-1.00em;">{{{fl}}}</span>}}<!--
-->{{{1|A}}}<!--
--></span><!--
--></includeonly><noinclude><br style="clear:both;" />
Bản mẫu này dùng để tạo hiệu ứng "chữ cái đầu phóng lớn" thường thấy trong các bản in hiện đại và cổ điển:
[[File:Drop initial example.jpg|center|250px|thumb|Dùng với thông số '''<nowiki>{{</nowiki>dropinitial{{Unicode||}}''L''{{Unicode||}}''2.4em''{{Unicode||}}''0em''{{Unicode||}}''.05em''<nowiki>}}</nowiki>''' đặt trong khối chữ cái Times New Roman.]]
== Để sử dụng ==
'''<nowiki>{{</nowiki>dropinitial|''nội dung''|''kích thước font''|''biên trên''|''biên phải''|''biên dưới''|''biên trái''<nowiki>}}</nowiki>'''.
Thông số ''kích thước font'' và các thông số giá trị biên nên dùng bằng đơn vị tương đối, tức là ở dạng phần trăm hoặc các đơn vị '[[w:En (bản in)|en]]' hoặc '[[w:Em (bản in)|em]]'.
Không có thông số nào trong số này là bắt buộc, khi đó mặc định sẽ là:
* nội dung = A
* kích thước font = 3em
* biên phải = .1em
Sẽ tạo ra chữ đầu phóng lớn gần bằng chiều cao hai hàng trong font chữ mặc định hiện nay của Wikisource.
<blockquote>
Chú ý: Các font chữ có thể sẽ được kết xuất hơi khác tại các trình duyệt khác nhau và trên hệ điều hành khác nhau. Bạn có muốn kiểm tra tác phẩm của bạn trong [[w:Mozilla Firefox|Mozilla Firefox]], [[w:Safari|Apple Safari]], [[w:Opera (trình duyệt)|Opera]], [[w:Internet Explorer|Windows Internet Explorer]] hoặc các [[w:Danh sách các trình duyệt|trình duyệt web]] khác ở nhiều máy tính khác nhau để đảm bảo việc đóng khung văn bản xung quanh chữ cái đầu như ý bạn muốn nếu bạn không dùng giá trị mặc định.
</blockquote>
== Ghi chú về kiểu in ==
Nếu bạn chỉ cần một chữ cái đầu ''phóng lớn'' trong một văn bản, không chảy xuống phía dưới hàng nền, hãy dùng bản mẫu {{tl|largeinitial}}:
<blockquote>
{{largeinitial|L}}orem ipsum sit amet...
</blockquote>
== Ghi chú về kỹ thuật ==
Bản mẫu này chỉ đơn giản là tạo ra một span nổi bên trái (có kiểu là <tt>display: block;</tt>) chứa ''nội dung'' cùng với các kiểu CSS dành cho nó. Thật không may là [http://www.w3.org/TR/css3-linebox/#Initial các kiểu CSS 3 để hướng dẫn định dạng kiểu drop cap] không được hiện thực tại mọi trình duyệt. Để dự kiến cho tương lai, bản mẫu này áp dụng lớp "dropinitial" vào span xuất.
{{DEFAULTSORT:Dropinitial}}
[[Category:Bản mẫu định dạng]]</noinclude>
m8mkjb0g59fmndlm5lvxt31i5mp5vl5
67527
67525
2019-01-22T03:08:19Z
Vinhtantran
484
/* Để sử dụng */
wikitext
text/x-wiki
<includeonly><!--
--><span class="dropinitial" style="float:left; line-height:1.00em; <!--
-->{{#if:{{{z-index|}}}|z-index:{{{z-index}}}; position:relative; |}}<!--
-->font-size:{{#if:{{{font-size|{{{2|}}}}}}|{{{font-size|{{{2|}}}}}}|3.00em}}; <!--
-->margin:{{#if:{{{margin-top|{{{3|}}}}}}|{{{margin-top|{{{3|}}}}}}|0.00em}} <!--
-->{{#if:{{{margin-right|{{{4|}}}}}}|{{{margin-right|{{{4|}}}}}}|0.10em}} <!--
-->{{#if:{{{margin-bottom|{{{5|}}}}}}|{{{margin-bottom|{{{5|}}}}}}|0.00em}} <!--
-->{{#if:{{{margin-left|{{{6|}}}}}}|{{{margin-left|{{{6|}}}}}}|0.00em}}; <!--
-->text-indent:{{#if:{{{text-indent|{{{7|}}}}}}|text-indent|0.00em}};"><!--
-->{{#if:{{{fl|}}}|<span style="font-size:40%; position:relative; top:-1.00em;">{{{fl}}}</span>}}<!--
-->{{{1|A}}}<!--
--></span><!--
--></includeonly><noinclude><br style="clear:both;" />
Bản mẫu này dùng để tạo hiệu ứng "chữ cái đầu phóng lớn" thường thấy trong các bản in hiện đại và cổ điển:
[[File:Drop initial example.jpg|center|250px|thumb|Dùng với thông số '''<nowiki>{{</nowiki>dropinitial{{Unicode||}}''L''{{Unicode||}}''2.4em''{{Unicode||}}''0em''{{Unicode||}}''.05em''<nowiki>}}</nowiki>''' đặt trong khối chữ cái Times New Roman.]]
== Để sử dụng ==
'''<nowiki>{{</nowiki>dropcap|''nội dung''|''kích thước font''|''biên trên''|''biên phải''|''biên dưới''|''biên trái''<nowiki>}}</nowiki>'''.
Thông số ''kích thước font'' và các thông số giá trị biên nên dùng bằng đơn vị tương đối, tức là ở dạng phần trăm hoặc các đơn vị '[[w:En (bản in)|en]]' hoặc '[[w:Em (bản in)|em]]'.
Không có thông số nào trong số này là bắt buộc, khi đó mặc định sẽ là:
* nội dung = A
* kích thước font = 3em
* biên phải = .1em
Sẽ tạo ra chữ đầu phóng lớn gần bằng chiều cao hai hàng trong font chữ mặc định hiện nay của Wikisource.
<blockquote>
Chú ý: Các font chữ có thể sẽ được kết xuất hơi khác tại các trình duyệt khác nhau và trên hệ điều hành khác nhau. Bạn có muốn kiểm tra tác phẩm của bạn trong [[w:Mozilla Firefox|Mozilla Firefox]], [[w:Safari|Apple Safari]], [[w:Opera (trình duyệt)|Opera]], [[w:Internet Explorer|Windows Internet Explorer]] hoặc các [[w:Danh sách các trình duyệt|trình duyệt web]] khác ở nhiều máy tính khác nhau để đảm bảo việc đóng khung văn bản xung quanh chữ cái đầu như ý bạn muốn nếu bạn không dùng giá trị mặc định.
</blockquote>
== Ghi chú về kiểu in ==
Nếu bạn chỉ cần một chữ cái đầu ''phóng lớn'' trong một văn bản, không chảy xuống phía dưới hàng nền, hãy dùng bản mẫu {{tl|largeinitial}}:
<blockquote>
{{largeinitial|L}}orem ipsum sit amet...
</blockquote>
== Ghi chú về kỹ thuật ==
Bản mẫu này chỉ đơn giản là tạo ra một span nổi bên trái (có kiểu là <tt>display: block;</tt>) chứa ''nội dung'' cùng với các kiểu CSS dành cho nó. Thật không may là [http://www.w3.org/TR/css3-linebox/#Initial các kiểu CSS 3 để hướng dẫn định dạng kiểu drop cap] không được hiện thực tại mọi trình duyệt. Để dự kiến cho tương lai, bản mẫu này áp dụng lớp "dropinitial" vào span xuất.
{{DEFAULTSORT:Dropinitial}}
[[Category:Bản mẫu định dạng]]</noinclude>
mdqr8gltx0uq2s6kvgipmtl4woc8l8k
Luật sửa đổi bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1998
0
11632
67543
32897
2019-01-22T08:42:45Z
Én bạc
7691
wikitext
text/x-wiki
{{tương tự|Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam}}
{{đầu đề
| tựa đề = Luật sửa đổi bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1998
| tác giả = Quốc hội Việt Nam
| dịch giả =
| năm = 1998
| phần =
| trước = [[Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1996]]
| sau = [[Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2002]]
| ghi chú = Luật này được ban hành ngày 01 tháng 6 năm 1998 và hết hiệu lực ngày 01 tháng 1 năm 2004.
Xem thêm:[[Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1996]]<br>[[Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2002]]
}}
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20 tháng 3 năm 1996.
==Chương I:Những quy định chung==
===Điều 1===
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
===Điều 2===
1- Thu ngân sách Nhà nước bao gồm: các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bôi chi được đưa vào cân đối ngân sách Nhà nước.
2- Chi ngân sách Nhà nước bao gồm: các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
===Điều 3===
Ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, có phân công trách nhiệm gắn với quyền hạn, phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp.
Quốc hội quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước.
===Điều 4===
Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (ngân sách địa phương). Quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
1. Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể;
2. Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới;
3. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;
4. Ngoài việc bổ sung nguồn thu và uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi quy định tại các khoản 2 và 3 Điều này, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.
===Điều 5===
1- Thu ngân sách Nhà nước phải được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật.
2- Chi ngân sách Nhà nước chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
A) Đã có trong dự toán ngân sách được duyệt, trừ trường hợp quy định tại các Điều 56 và 62 của Luật này;
B) Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định;
C) Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền chuẩn chi.
Ngoài các điều kiện quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này đối với những khoản chi cho công việc cần phải đấu thầu thì còn phải tổ chức đấu thầu theo quy định của Chính phủ.
3- Các ngành, các cấp, các đơn vị không được đặt ra các khoản thu, chi trái với quy định của pháp luật.
4- Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm cấp phát kịp thời các khoản chi; có quyền từ chối chi trả các khoản chi không đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
===Điều 6===
Tất cả các khoản thu, chi của ngân sách Nhà nước phải được hạch toán đây đủ vào ngân sách Nhà nước.
===Điều 7===
1- Quỹ ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay, có trên tài khoản của ngân sách Nhà nước các cấp.
2- Quy ngân sách Nhà nước được quản lý tại Kho bạc Nhà nước.
===Điều 8===
1- Ngân sách Nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi, thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách.
2- Vay bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước phải bảo đảm nguyên tắc: không sử dụng cho tiêu dùng; chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển, phải có kế hoạch thu hồi vốn vay và bảo đảm cân đối ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn.
3- Ngân sách địa phương được cân đối theo nguyên tắc tổng số chi không vượt quá tổng số thu; trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm mà vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh, thì được phép huy động vốn đầu tư trong nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và phải cân đối ngân sách cấp tỉnh để chủ động trả hết nợ khi hết hạn.
===Điều 9===
1- Dự toán chi ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương được bố trí khoản dự phòng từ 3% đến 5% tổng số chi để đáp ứng các nhu cầu chi phát sinh đột xuất trong năm ngân sách.
2- Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh được lập quỹ dự trữ tài chính từ các nguồn: tăng thu, kết dư ngân sách và bố trí trong dự toán chi ngân sách hàng năm. Quỹ dự trữ tài chính được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu chi khi nguồn thu chưa tập trung kịp và phải hoàn trả ngay trong năm ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quy định.
Mức khống chế tối đa của quỹ dự trữ tài chính ở mỗi cấp do Chính phủ quy định.
===Điều 10===
Việc ban hành và thực hiện các văn bản phát luật mới làm tăng chi hoặc giảm thu ngân sách trong năm phải có nguồn tài chính bảo đảm.
===Điều 11===
Ngân sách Nhà nước bảo đảm cân đối kinh phí hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Kinh phí hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được thực hiện theo nguyên tắc tự bảo đảm, ngân sách Nhà nước tài trợ trong một số trường hợp cụ thể theo quy định của Chính phủ.
===Điều 12===
Mọi tài sản được đầu tư, mua sắm từ nguồn ngân sách Nhà nước và tài sản khác của Nhà nước phải được quản lý chặt chẽ theo đúng chế độ quy định.
===Điều 13===
1- Thu, chi ngân sách Nhà nước được hạch toán bằng đồng Việt Nam.
2- Kế toán và quyết toán ngân sách Nhà nước được thực hiện thống nhất theo chế độ kế toán của Nhà nước và Mục lục ngân sách Nhà nước.
3- Chứng từ để thu, chi ngân sách Nhà nước do Bộ Tài chính phát hành và quản lý.
===Điều 14===
Năm ngân sách bắt đầu từ ngày 01 tháng 1 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch.
==Chương II:Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, chủ tịch nước, chính phủ, các cơ quan khác của nhà nước và trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân về ngân sách nhà nước==
===Điều 15===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội:
1- Làm luật và sửa đổi luật trong lĩnh vực ngân sách Nhà nước;
2- Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia để góp phần phát triển kinh tế, bảo đảm cân đối thu, chi ngân sách Nhà nước;
3- Quyết định dự toán ngân sách Nhà nước với tổng số thu, tổng số chi, mức bội chi và các nguồn bù đắp;
4- Quyết định phân bổ ngân sách Nhà nước theo từng loại thu, từng lĩnh vực chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ. Căn cứ vào quyết định của Quốc hội về ngân sách Nhà nước hàng năm, Quốc hội giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định phương án phân bổ ngân sách trung ương cho từng bộ, ngành và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung do Chính phủ trình và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất;
5- Quyết định danh mục các chương trình, dự án quốc gia, các công trình xây dựng cơ bản quan trọng được đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước;
6- Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách Nhà nước trong trường hợp cần thiết;
7- Giám sát việc thực hiện ngân sách Nhà nước, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, Nghị quyết của Quốc hội về ngân sách Nhà nước hàng năm, các chương trình, dự án quốc gia, các công trình xây dựng cơ bản quan trọng;
8- Phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước.
===Điều 16===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
1- Ban hành văn bản pháp luật về lĩnh vực ngân sách Nhà nước được Quốc hội giao;
2- Thực hiện nhiệm vụ của Quốc hội giao về quyết định phương án phân bổ ngân sách trung ương theo quy định tại khoản 4 Điều 15 của Luật này;
3- Giám sát việc thi hành pháp luật về ngân sách, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, Nghị quyết của Quốc hội về ngân sách Nhà nước hàng năm.
===Điều 17===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội:
1- Thẩm tra dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về lĩnh vực ngân sách;
2- Thẩm tra dự toán ngân sách Nhà nước, phân bổ ngân sách Nhà nước, các báo cáo về việc thực hiện ngân sách Nhà nước và quyết toán ngân sách Nhà nước do Chính phủ trình Quốc hội;
Thẩm tra phương án phân bổ ngân sách trung ương cho từng bộ, ngành và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chính phủ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
4- Giám sát hoạt động của Chính phủ, các ngành, các cấp trong việc thực hiện ngân sách Nhà nước và việc thực hiện pháp luật về ngân sách của các tổ chức và cá nhân;
5- Kiến nghị với Quốc hội các vấn đề về ngân sách, tài chính và tiền tệ.
===Điều 18===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội:
1- Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp với Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về lĩnh vực ngân sách do Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
2- Giám sát việc thực hiện pháp luật về ngân sách và việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực mình phụ trách.
===Điều 19===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước:
Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định trong việc ký kết, phê chuẩn điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lĩnh vực tài chính, tiền tệ.
===Điều 20===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ:
1- Trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về ngân sách Nhà nước; ban hành các văn bản pháp quy về ngân sách Nhà nước theo thẩm quyền;
2- Lập và trình Quốc hội dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước, dự toán điều chỉnh ngân sách Nhà nước trong trường hợp cần thiết;
3- Lập và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phương án phân bổ cụ thể ngân sách trung ương;
4- Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng bộ, ngành; nhiệm vụ thu, chi và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
5- Thống nhất quản lý ngân sách Nhà nước, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý ngành và địa phương trong việc thực hiện ngân sách Nhà nước;
6- Tổ chức và kiểm tra việc thực hiện ngân sách Nhà nước, báo cáo Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước, các chương trình, dự án quốc gia, các công trình xây dựng cơ bản quan trọng;
7- Quy định nguyên tắc, phương pháp tính toán việc bổ sung nguồn thu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới;
8- Quy định chế độ sử dụng khoản dự phòng ngân sách Nhà nước và quản lý quỹ dự trữ tài chính;
9- Quy định hoặc uỷ quyền cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách Nhà nước để thi hành thống nhất trong cả nước;
10- Kiểm tra Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách;
11- Lập và trình Quốc hội quyết toán ngân sách Nhà nước, quyết toán các công trình xây dựng cơ bản quan trọng của Nhà nước.
===Điều 21===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tài chính:
1- Chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về lĩnh vực ngân sách Nhà nước trình Chính phủ; ban hành các văn bản pháp quy về ngân sách Nhà nước theo thẩm quyền;
2- Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng thống nhất quản lý ngân sách Nhà nước:
A) Thống nhất quản lý và chỉ đạo công tác thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách Nhà nước;
B) Thống nhất quản lý các khoản vay và trả nợ của Chính phủ, quản lý tài chính các nguồn viện trợ quốc tế;
C) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện ngân sách Nhà nước; tổ chức thực hiện thu ngân sách Nhà nước và cấp phát các khoản chi của ngân sách Nhà nước; cho vay ưu đãi hoặc hỗ trợ tài chính đối với các dự án chương trình mục tiêu kinh tế của Nhà nước theo quy định của Chính phủ.
3- Hướng dẫn, kiểm tra các bộ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương xây dựng dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm; chủ động phối hợp với các cơ quan hữu quan ở trung ương và địa phương lập dự toán ngân sách Nhà nước, phân bổ ngân sách Nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương trình Chính phủ; đề xuất các biện pháp nhằm thực hiện chính sách tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách Nhà nước;
4- Chủ trì phối hợp với các bộ, ngành trong việc xây dựng các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách Nhà nước trình Chính phủ quyết định hoặc quyết định theo phân cấp của Chính phủ để thi hành thống nhất trong cả nước;
5- Thanh tra, kiểm tra tài chính đối với tất cả các tổ chức kinh tế, các đơn vị hành chính sự nghiệp và các đối tượng khác có nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước và sử dụng ngân sách Nhà nước;
6- Quản lý quỹ ngân sách Nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước;
7- Lập quyết toán ngân sách trung ương, tổng hợp, lập quyết toán ngân sách Nhà nước trình Chính phủ;
8- Tổ chức quản lý, kiểm tra việc sử dụng tài sản của Nhà nước.
===Điều 22===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
1- Trình Chính phủ dự án kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của cả nước và các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, trong đó có cân đối tài chính, tiền tệ, vốn đầu tư xây dựng cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch tài chính, ngân sách;
2- Phối hợp với Bộ Tài chính lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực phụ trách;
3- Phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành hữu quan kiểm tra đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư các công trình xây dựng cơ bản.
===Điều 23===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:
1- Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc lập dự toán ngân sách Nhà nước đối với kế hoạch và phương án vay để bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước;
2- Tạm ứng cho ngân sách Nhà nước để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách Nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
===Điều 24===
Nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, ngành:
1- Phối hợp với Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong quá trình lập dự toán ngân sách Nhà nước, phân bổ ngân sách Nhà nước, quyết toán ngân sách Nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách;
2- Phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra theo dõi tình hình thực hiện ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách;
3- Báo cáo tình hình thực hiện và kết quả sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách theo chế độ quy đinh;
4- Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc xây dựng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách Nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách.
===Điều 25===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân:
1- Hội đồng nhân dân:
A) Quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương;
B) Quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương;
C) Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết;
D) Giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định;
Đ) Đối với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, ngoài nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 điều này còn có quyền quyết định thu phí, lệ phí, phụ thu và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; quyết định phân cấp chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội của địa phương do Uỷ ban nhân dân cùng cấp trình.
2- Uỷ ban nhân dân:
A) Lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương, dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;
B) Lập quyết toán ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê chuẩn và báo cáo cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;
C) Kiểm tra Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới về dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách;
D) Căn cứ vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc; nhiệm vụ thu, chi và mức bổ sung cho ngân sách cấp dưới;
Đ) Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương;
E) Phối hợp với các cơ quan Nhà nước cấp trên trong việc quản lý ngân sách Nhà nước lĩnh vực trên địa bàn;
G) Báo cáo về ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật;
H) Đối với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g khoản 2 Điều này còn có nhiệm vụ lập và trình Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề được quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều này.
===Điều 26===
Nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị dự toán ngân sách Nhà nước:
1- Tổ chức việc lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi được giao;
2- Tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân sách được giao; nộp đầy đủ đúng hạn các khoản phải nộp ngân sách theo quy định của pháp luật; chi đúng chế độ; đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm;
3- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện thu, chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc;
4- Quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước tại đơn vị theo đúng mục đích, đúng chế độ, có hiệu quả;
5- Chấp hành đúng chế độ kế toán, thống kê của Nhà nước; báo cáo tình hình thực hiện ngân sách và quyết toán ngân sách theo chế độ quy định.
===Điều 27===
Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm, nghĩa vụ:
1- Nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác vào ngân sách theo quy định của pháp luật;
2- Trường hợp được Nhà nước trợ cấp, tài trợ vốn và kinh phí theo dự toán được duyệt thì phải quản lý và sử dụng các khoản vốn và kinh phí đó đúng mục đích, đúng chế độ, tiết kiệm, có hiệu quả;
3- Chấp hành đúng chế độ kế toán, thống kê của Nhà nước.
==Chương III:Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp==
===Điều 28===
Nguồn thu của ngân sách trung ương gồm:
1. Các khoản thu 100%:
A) Thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu;
B) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
C) Thuế tiêu thụ đặc biệt, không kể thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước thu vào các mặt hàng bài lá, vàng mã, hàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê; kinh doanh gôn (golf) bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; kinh doanh ca-si-nô (casino); trò chơi bằng máy giắc-pót (jackpot); kinh doanh vé đặt cược đua ngựa, đua xe;
D) Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành;
Đ) Các khoản thuế và thu khác từ dầu khí phải nộp ngân sách trung ương theo quy định của Chính phủ;
E) Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước, tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi), thu từ quỹ dự trữ nhà nước;
G) Các khoản do Chính phủ vay; viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ theo quy định của pháp luật;
H) Các khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp vào ngân sách trung ương theo quy định của Chính phủ;
I) Thu kết dư ngân sách trung ương;
K) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh:
A) Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
B) Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;
C) Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;
D) Thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài;
Đ) Thu sử dụng vốn ngân sách.
===Điều 29===
Nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương gồm:
1- Chi thường xuyên về:
A) Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường, các sự nghiệp khác do các cơ quan trung ương quản lý;
B) Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do các cơ quan trung ương quản lý;
C) Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, trừ phần giao cho địa phương;
D) Hoạt động của các cơ quan trung ương của Nhà nước, Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội;
Đ) Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
E) Các chương trình quốc gia do Trung ương quản lý;
G) Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ;
H) Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội do Trung ương đảm nhận;
I) Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội-nghề nghiệp ở Trung ương theo quy định của pháp luật;
K) Trả lãi tiền do Chính phủ vay;
L) Viện trợ;
M) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
2- Chi đầu tư phát triển:
A) Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội không có khả năng thu hồi vốn do Trung ương quản lý;
B) Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
C) Chi cho Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các Quỹ hỗ trợ phát triển đối với các chương trình, dự án phát triển kinh tế;
D) Dự trữ Nhà nước.
3- Chi trả nợ gốc tiền do Chính phủ vay.
4- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
5- Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
===Điều 30===
Nguồn thu của ngân sách cấp tỉnh gồm:
1. Các khoản thu 100%:
A) Tiền cho thuê đất;
B) Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
C) Lệ phí trước bạ phát sinh trên địa bàn huyện, quận; không kể lệ phí trước bạ nhà, đất;
D) Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
Đ) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
E) Các khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp vào ngân sách cấp tỉnh theo quy định của Chính phủ;
G) Huy động của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ;
H) Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho ngân sách cấp tỉnh;
I) Thu kết dư ngân sách cấp tỉnh;
K) Bổ sung từ ngân sách trung ương;
L) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật này. Việc phân cấp cụ thể các khoản thu này cho ngân sách các cấp chính quyền địa phương do cấp tỉnh quy định trong phạm vi tỉnh được phân cấp.
3. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, thị trấn:
A) Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
B) Thuế nhà, đất;
C) Tiền sử dụng đất.
4. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, thị trấn, phường:
A) Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
B) Thuế tài nguyên;
C) Lệ phí trước bạ nhà, đất;
D) Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản suất trong nước thu vào các mặt hàng bài lá, vàng mã, hàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê; kinh doanh gôn bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; kinh doanh ca-si-nô; trò chơi bằng máy giắc-pót; kinh doanh vé đặt cược đua ngựa, đua xe.
Các khoản thu quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này, ngân sách địa phương được hưởng 100%. Việc phân cấp cụ thể các khoản thu này cho ngân sách các cấp chính quyền địa phương do cấp tỉnh quy định; riêng tỷ lệ phần trăm (%) phân chia thuế sử dụng đất nông nghiệp cho ngân sách xã, thị trấn, phường tối thiểu là 20%.
===Điều 31===
Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp tỉnh gồm:
1- Chi thường xuyên về:
A) Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do các cơ quan cấp tỉnh quản lý;
B) Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, phần giao cho cấp tỉnh;
C) Hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh;
D) Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
Đ) Thực hiện các chính sách xã hội do cấp tỉnh quản lý;
E) Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho cấp tỉnh quản lý;
G) Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
H) Trả lãi tiền vay cho đầu tư quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật này;
I) Các khoản chi phí khác theo quy định của Luật pháp.
2- Chi đầu tư phát triển:
A) Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do cấp tỉnh quản lý;
B) Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước theo quy định của Pháp luật.
3- Chi trả nợ gốc tiền vay cho đầu tư quy định tại khoản 3 Điều 8 của luật này.
4- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
5- Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
===Điều 32===
Nguồn thu của ngân sách cấp huyện gồm:
1. Các khoản thu 100%:
A) Thuế môn bài, trừ thuế môn bài thu từ các cá nhân và nhóm kinh doanh nhỏ ở xã, thị trấn;
B) Thuế sát sinh thu từ các doanh nghiệp giết mổ gia súc trên địa bàn phường;
C) Các khoản phí, lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc cấp huyện quản lý;
D) Tiền thu từ hoạt động sự nghiệp của các đơn vị do cấp huyện quản lý;
Đ) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp huyện theo quy định của pháp luật;
E) Đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ;
G) Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho ngân sách cấp huyện;
H) Thu kết dư ngân sách cấp huyện;
I) Bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh;
K) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, thị trấn, phường theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 30 của Luật này.
3. Ngoài ra, đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh được phân chia với ngân sách cấp tỉnh theo tỷ lệ phần trăm (%) khoản thu lệ phí trước bạ, không kể lệ phí trước bạ nhà, đất phát sinh trên địa bàn và được thành lập quỹ đầu tư theo quy định của Chính phủ.
===Điều 33===
Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện gồm:
1. Chi thường xuyên về:
A) Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao, xã hội và các hoạt động sự nghiệp khác do cơ quan cấp huyện quản lý; riêng về giáo dục, đào tạo, y tế theo phân cấp của cấp tỉnh;
B) Quốc phòng, an ninh và trật tự - an toàn xã hội, phần giao cho cấp huyện;
C) Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội cấp huyện;
D) Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp cấp huyện theo quy định của pháp luật;
Đ) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
E) Ngoài các nhiệm vụ chi quy định tại các điểm a, b, c, d và đ, khoản 1 Điều này, đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh còn đảm nhận thêm các nhiệm vụ chi về quản lý, duy tu, bảo dưỡng các công trình công cộng, sự nghiệp thị chính.
2. Chi đầu tư phát triển:
Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo phân cấp của tỉnh. Trong phân cấp đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh, phải có nhiệm vụ chi đầu tư xây dựng các trường phổ thông quốc lập các cấp và các công trình phúc lợi công cộng, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông đô thị, an toàn giao thông, vệ sinh đô thị.
3. Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
===Điều 34===
Nguồn thu của ngân sách xã, thị trấn gồm:
1. Các khoản thu 100%:
A) Thuế môn bài thu từ các cá nhân và nhóm kinh doanh nhỏ;
B) Thuế sát sinh;
C) Các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp thu cho ngân sách xã, thị trấn theo quy định của pháp luật;
D) Thu từ sử dụng qũy đất công ích và thu hoa lợi công sản khác;
Đ) Tiền thu từ hoạt động sự nghiệp do xã, thị trấn quản lý;
E) Các khoản đóng góp tự nguyện cho xã, thị trấn;
G) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho xã, thị trấn theo quy định của pháp luật;
H) Thu kết dư ngân sách xã, thị trấn;
I) Bổ sung từ ngân sách cấp trên;
K) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, thị trấn, phường theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 30 của Luật này.
===Điều 35===
Nhiệm vụ chi của ngân sách xã, thị trấn gồm:
1- Chi thường xuyên về:
A) Công tác xã hội và hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao do xã, thị trấn quản lý;
B) Hỗ trợ kinh phí bổ túc văn hoá, nhà trẻ mẫu giáo do xã, thị trấn quản lý;
C) Hoạt động y tế xã, thị trấn;
D) Quản lý, duy tu, bảo dưỡng các công trình kiến trúc, tài sản, công trình phúc lợi, đường giao thông do xã, thị trấn quản lý;
Đ) Hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội xã, thị trấn;
E) Công tác dân quân tự vệ; trật tự an toàn xã hội ở xã, thị trấn;
G) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
2- Chi đầu tư phát triển:
Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo phân cấp của cấp tỉnh.
===Điều 36===
Ngoài các khoản thu, chi quy định tại các điều 34 và 35 của Luật này, chính quyền xã, thị trấn được huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tắc tự nguyện. Việc quản lý khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiển soát và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
===Điều 37===
Nguồn thu của ngân sách phường gồm:
1. Các khoản thu 100%:
A) Các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp cho ngân sách phường theo quy định của pháp luật;
B) Thuế sát sinh, trừ thuế sát sinh thu từ các doanh nghiệp giết mổ gia súc;
C) Các khoản đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân cho phường;
D) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho phường theo quy định của pháp luật;
Đ) Thu kết dư ngân sách phường;
E) Bổ sung từ ngân sách cấp trên;
G) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, thị trấn, phường theo quy định tại các khoản 2 và 4 Điều 30 của Luật này.
===Điều 38===
Nhiệm vụ chi của ngân sách phường gồm:
1- Chi công tác xã hội và hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao do phường quản lý;
2- Chi về công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội ở phường;
3- Chi về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng công sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phường;
4- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
===Điều 39===
Chính phủ quy định cụ thể tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu được quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật này giữa ngân sách trung ương với ngân sách từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Căn cứ vào tỷ lệ phần trăm (%) do Chính phủ quy định cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu được quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 30, các khoản 2 và 3 Điều 32 của Luật này giữa ngân sách cấp tỉnh với ngân sách từng huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và ngân sách từng xã, phường, thị trấn.
Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giao cho từng cấp được ổn định từ 3 đến 5 năm.
===Điều 40===
Số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để cân đối thu, chi ngân sách, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội được giao, được xác định trên cơ sở tính toán các nguồn thu, nhiệm vụ chi quy định tại các điều 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 37 và 38 của Luật này theo các tiêu thức: dân số, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng, chú ý tới vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng dân tộc thiểu số và các vùng có khó khăn. Số bổ sung này được ổn định từ ba đến năm năm. Hàng năm trong trường hợp có trượt giá, căn cứ vào số bổ sung đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định và tốc độ tăng trưởng kinh tế, Chính phủ quyết định mức điều chỉnh tăng một phần theo tỷ lệ trượt giá và một phần theo tốc độ tăng trưởng kinh tế trong việc tính bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
===Điều 41===
Chính phủ quy định việc điều chỉnh các khoản thu, khoản chi của từng cấp ngân sách, quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh và mức bổ sung của ngân sách trung ương cho ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và báo cáo Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong các trường hợp đặc biệt sau đây:
1- Có yêu cầu cấp bách về quốc phòng, an ninh;
2- Biến động lớn về thu, chi ngân sách so với mức đã phân bổ.
==Chương IV:Lập dự toán ngân sách nhà nước==
===Điều 42===
1- Dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm được lập căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
2- Các khoản thu trong dự toán ngân sách phải được xác định trên cơ sở tăng trưởng kinh tế và các quy định của pháp luật về thu ngân sách.
3- Các khoản chi trong dự toán ngân sách phải được xác định trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quản lý Nhà nước và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đối với các khoản chi thường xuyên, việc lập dự toán còn phải căn cứ vào nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và tuân theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.
===Điều 43===
1- Hàng năm, Thủ tướng Chính phủ quyết định về việc lập kế hoạch kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm sau.
2- Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán ngân sách nhà Nhà nước và số kiểm tra về dự toán ngân sách Nhà nước.
===Điều 44===
1. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc thu, chi ngân sách phải tổ chức lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao và gửi cơ quan tài chính cùng cấp.
2. Cơ quan tài chính các cấp ở địa phương xem xét dự toán ngân sách của các cơ quan, đơn vị cùng cấp và dự toán ngân sách của cấp chính quyền cấp dưới, tổng hợp, lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp.
3. Thường trực Hội đồng nhân dân hoặc Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xem xét dự toán ngân sách do Uỷ ban nhân dân cùng cấp lập để báo cáo cơ quan hành chính nhà nước cấp trên tổng hợp trình Quốc hội.
Sau khi dự toán ngân sách nhà nước được Quốc hội quyết định, căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao, Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.
===Điều 45===
Bộ Tài chính xem xét dự toán ngân sách của các cơ quan trung ương, dự toán ngân sách các dịa phương; tổng hợp và lập dự toán ngân sách Nhà nước trình Chính phủ.
===Điều 46===
Trong quá trình tổng hợp, lập dự toán ngân sách, cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm:
1- Làm việc với cơ quan, đơn vị dự toán ngân sách cùng cấp, Uỷ ban nhân dân cấp dưới để điều chỉnh những điểm xét thấy cần thiết trong dự toán ngân sách;
2- Kiến nghị các biện pháp bảo đảm cân đối ngân sách theo quy định tại Điều 8 của Luật này.
Trong quá trình làm việc, lập dự toán ngân sách Nhà nước, nếu có ý kiến khác nhau giữa Bộ Tài chính và các cơ quan trung ương, các địa phương, thì Bộ Tài chính phải trình Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ những ý kiến còn khác nhau để quyết định theo thẩm quyền. Nguyên tắc này cũng được áp dụng trong quá trình lập dự toán ngân sách các cấp ở địa phương.
===Điều 47===
Dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước theo từng loại thu, từng lĩnh vực chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ trình Quốc hội phải kèm theo tài liệu về các vấn đề sau đây:
1- Tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước năm trước, những căn cứ xây dựng dự toán ngân sách Nhà nước, những nội dung cơ bản và những giải pháp nhằm thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước;
2- Các nhiệm vụ chi ngân sách Nhà nước, trong đó nêu rõ những mục tiêu, chương trình quan trọng của nền kinh tế quốc dân và những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước có liên quan đến ngân sách Nhà nước;
3- Các nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước kèm theo những giải pháp nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước;
4- Bội chi ngân sách Nhà nước và các nguồn bù đắp; tỷ lệ bội chi so với tổng sản phẩm trong nước;
5- Báo cáo các khoản nợ của Nhà nước, trong đó nêu rõ số nợ đến hạn phải trả, số nợ quá hạn trả, số lãi phải trả trong năm, số nợ sẽ phát sinh thêm do phải vay để bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước, khả năng trả nợ trong năm và số nợ đến cuối năm;
6- Những chính sách và biện pháp cụ thể nhằm ổn định tài chính, tiền tệ và ngân sách Nhà nước;
7- Danh mục các dự án đầu tư cho các công trình xây dựng cơ bản quan trọng thuộc nguồn ngân sách Nhà nước;
8- Các tài liệu khác nhằm thuyết minh rõ dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước;
===Điều 48===
Dự toán ngân sách Nhà nước năm sau phải được gửi đến đại biểu Quốc hội chậm nhất là mười ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội cuối năm trước.
===Điều 49===
Các tài liệu cần thiết phải có kèm theo dự toán ngân sách địa phương trình hội đồng nhân dân do Chính phủ quy định.
===Điều 50===
1. Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước năm sau trước ngày 30 tháng 11 năm trước.
2. Trong trường hợp dự toán ngân sách nhà nước chưa được Quốc hội quyết định, Chính phủ lập lại dự toán ngân sách nhà nước trình Quốc hội vào thời gian do Quốc hội quyết định.
3. Hội đồng nhân dân căn cứ vào dự toán ngân sách được cấp trên giao, căn cứ vào nguồn thu, nhiệm vụ chi đã được phân cấp cho địa phương và chế độ, chính sách hiện hành, quyết định dự toán ngân sách địa phương theo thời gian quy định của Chính phủ.
===Điều 51===
Việc phân bổ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương năm sau cho các đơn vị sử dụng ngân sách phải được thực hiện trước ngày 31 tháng 12 năm trước.
===Điều 52===
Trong quá trình thảo luận và quyết định dự toán ngân sách tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân, khi quyết định dự toán ngân sách về việc tăng các khoản chi hoặc bổ sung khoản chi mới, Quốc hội, Hội đồng nhân dân đồng thời xem xét và quyết định các giải pháp để bảo đảm cân đối ngân sách.
===Điều 53===
Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên có quyền yêu cầu Hội đồng nhân dân cấp dưới điều chỉnh lại dự toán ngân sách, nếu việc bố trí ngân sách của địa phương không phù hợp với quyết định của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp trên.
===Điều 54===
Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thời gian lập dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước.
==Chương V:Chấp hành ngân sách nhà nước==
===Điều 55===
Khi nhận được số phân bổ về ngân sách, các cơ quan Nhà nước và các đơn vị dự toán ngân sách giao nhiệm vụ cho các đơn vị trực thuộc bảo đảm đúng với dự toán ngân sách được phân bổ; đồng thời thông báo cho cơ quan tài chính cùng cấp và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để theo dõi, cấp pháp và quản lý. Ngoài cơ quan giao ngân sách, không một tổ chức hoặc cá nhân nào được thay đổi nhiệm vụ ngân sách đã được phân bổ.
===Điều 56===
Trong trường hợp vào đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, cơ quan tài chính các cấp được phép tạm cấp kinh phí cho các nhu cầu chi không thể trì hoãn được cho tới khi dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách được quyết định.
===Điều 57===
1- Các cơ quan Nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đề ra những biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi ngân sách được giao, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham ô; chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật tài chính.
2- Các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức và cá nhân phải chấp hành nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của pháp luật; sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước đúng mục đích, đúng chế độ, tiết kiệm, có hiệu quả.
===Điều 58===
1- Cơ quan tài chính các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách phải nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản phải nộp vào ngân sách Nhà nước; nếu nộp chậm mà không có lý do chính dáng, căn cứ vào yêu cầu của cơ quan tài chính, các ngân hàng và Kho bạc Nhà nước phải trích từ tài khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân nộp chậm để nộp ngân sách Nhà nước hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho ngân sách.
2- Các khoản chi thường xuyên theo định kỳ phải được bố trí kinh phí đều trong năm để chi; các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc mua sắm lớn phải có kế hoạch với cơ quan tài chính để chủ động bố trí kinh phí.
===Điều 59===
1- Chỉ cơ quan thuế và cơ quan Nhà nước giao nhiệm vụ thu ngân sách (gọi chung là cơ quan thu) được tổ chức thu ngân sách Nhà nước.
2- Cơ quan thu có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
A) Phối hợp với các cơ quan Nhà nước hữu quan, tổ chức đúng pháp luật; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của Uỷ ban nhân dân và sự giám sát của Hội đồng nhân dân về công tác thu ngân sách tại địa phương; phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tuyên truyền, vận động các tổ chức và công dân thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật;
B) Kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu của ngân sách Nhà nước;
C) Xác định và thông báo cho các tổ chức, cá nhân số thuế hoặc các khoản thu phải nộp ngân sách Nhà nước;
D) Kiểm tra việc chấp hành thu, nộp ngân sách Nhà nước và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
3- Toàn bộ các khoản thu ngân sách phải được nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt cơ quan thu được phép tổ chức thu trực tiếp, nhưng phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào Kho bạc Nhà nước theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
===Điều 60===
Việc cấp phát kinh phí ngân sách Nhà nước được thực hiện theo quy định sau đây:
1- Căn cứ vào dự toán ngân sách Nhà nước được giao, các đơn vị sử dụng ngân sách lập kế hoạch chi gửi cơ quan tài chính cùng cấp và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để chủ động bố trí kinh phí;
2- Cơ quan tài chính xem xét kế hoạch chi của đơn vị và căn cứ vào khả năng ngân sách để bố trí mức chi hàng quý, thông báo cho đơn vị để thực hiện;
3- Căn cứ vào mức chi do cơ quan tài chính thông báo, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách ra lệnh chuẩn chi, Kho bạc Nhà nước kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật và thực hiện việc cấp phát, thanh toán;
4- Mọi khoản chi ngân sách Nhà nước được thực hiện khi có đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật này và theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước. Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc thực hiện nguyên tắc này.
===Điều 61===
Nghiêm cấm tăng chi về quỹ tiền lương đã ghi trong dự toán ngân sách được duyệt, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép.
Chi đầy tư xây dựng cơ bản phải bảo đảm cấp đủ và đúng tiến độ trong phạm vi kế hoạch được giao, những khoản chi khác chỉ được phép điều chỉnh trong phạm vi dự toán được phân bổ và theo quy định của Chính phủ, trừ trường hợp quy định tại các khoản 2 và 3 Điều 62 của Luật này.
===Điều 62===
Trong quá trình chấp hành ngân sách nhà nước, nếu có sự thay đổi về thu, chi thì thực hiện như sau:
1. Số tăng thu và tiết kiệm chi so với dự toán được giao được sử dụng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ hoặc để bổ sung quỹ dự trữ tài chính và tăng chi cho các khoản cần thiết khác theo quy định của Chính phủ;
2. Trường hợp số thu không đạt dự toán được duyệt, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được phép điều chỉnh giảm một số khoản chi tương ứng, đồng thời báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Quốc hội, Hội đồng nhân dân cùng cấp trong kỳ họp gần nhất;
3. Trường hợp có nhu cầu chi đột xuất ngoài dự toán nhưng không thể trì hoãn được mà khoản dự phòng ngân sách không đủ đáp ứng, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phải sắp xếp lại các khoản chi trong dự toán được giao để có nguồn đáp ứng nhu cầu chi đột xuất đó;
4. Hàng năm, trong trường hợp có số tăng thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt so với nhiệm vụ thu được giao, không kể thuế tiêu thụ đặc biệt quy định tại khoản 4 Điều 30 của Luật này, Chính phủ quyết định trích một phần theo tỷ lệ phần trăm (%) của số tăng thu đó cho ngân sách cấp tỉnh để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng và báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
5. Trường hợp quỹ ngân sách nhà nước thiếu hụt tạm thời, phải sử dụng quỹ dự trữ tài chính để xử lý. Riêng đối với ngân sách trung ương nếu quỹ dự trữ tài chính không đáp ứng được, Ngân hàng nhà nước tạm ứng cho ngân sách trung ương theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Tạm ứng từ quỹ dự trữ tài chính của ngân sách các cấp và tạm ứng từ Ngân hàng nhà nước của Ngân sách trung ương phải được hoàn trả trong năm ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
===Điều 63===
Các đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước có nhiệm vụ báo cáo định kỳ tình hình thực hiện chi ngân sách Nhà nước gửi cơ quan tài chính theo quy định của pháp luật. Trường hợp vi phạm chế độ báo cáo, cơ quan tài chính có quyền tạm đình chỉ cấp phát kinh phí cho tới khi nhận được báo cáo.
==Chương VI:Kế toán và quyết toán ngân sách nhà nước==
===Điều 64===
Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, chi ngân sách Nhà nước phải tổ chức hạch toán kế toán, báo cáo và quyết toán theo đúng chế độ kế toán Nhà nước.
===Điều 65===
1- Cuối năm ngân sách, Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn việc khoá sổ kế toán và lập báo cáo quyết toán ngân sách theo đúng các nội dung ghi trong dự toán năm được duyệt và theo Mục lục ngân sách Nhà nước.
2- Tất cả các khoản thu thuộc ngân sách các năm trước nộp trong năm sau phải ghi vào ngân sách năm sau. Các khoản chi ngân sách năm trước chưa thực hiện, chỉ được đưa vào dự toán năm sau khi được cơ quan có thẩm quyền quyết định.
===Điều 66===
Kết dư ngân sách trung ương, ngân sách cấp tỉnh được trích năm mươi phần trăm chuyển vào quỹ dự trữ tài chính, năm mươi phần trăm (50%) chuyển vào ngân sách năm sau, nếu quỹ dự trữ tài chính đã đủ mức giới hạn thì chuyển số còn lại vào ngân sách năm sau. Kết dư ngân sách cấp huyện, ngân sách xã, thị trấn, phường chuyển vào ngân sách năm sau.
===Điều 67===
1- Căn cứ vào hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Tài chính, thủ trưởng các đơn vị có nhiệm vụ thu, chi ngân sách lập quyết toán thu, chi ngân sách của đơn vị mình gửi cơ quan quản lý cấp trên.
2- Số liệu quyết toán phải được đối chiếu và được Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch xác nhận.
3- Thủ trưởng các đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm kiểm tra và duyệt quyết toán thu, chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc, lập quyết toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi mình quản lý gửi cơ quan tài chính cùng cấp.
===Điều 68===
1- Cơ quan tài chính các cấp ở địa phương xét duyệt quyết toán thu, chi ngân sách của các cơ quan cùng cấp, thẩm tra quyết toán ngân sách cấp dưới, tổng hợp lập quyết toán ngân sách địa phương trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp để Uỷ ban nhân dân xem xét trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê chuẩn, báo cáo cơ quan hành chính Nhà nước và cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.
2- Bộ Tài chính xét duyệt quyết toán thu, chi ngân sách của các cơ quan trung ương, thẩm tra quyết toán ngân sách địa phương, tổng hợp, lập quyết toán ngân sách Nhà nước trình Chính phủ để Chính phủ xem xét trình Quốc hội phê chuẩn.
===Điều 69===
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc tổ chức kiểm toán, quyết toán ngân sách Nhà nước trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn.
===Điều 70===
1- Quốc hội xem xét, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước; Hội đồng nhân dân xem xét, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương.
2- Trong trường hợp quyết toán ngân sách chưa được Quốc hội, Hội đồng nhân dân phê chuẩn thì Chính phủ, Uỷ ban nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và cơ quan Kiểm toán Nhà nước đã kiểm toán phải tiếp tục làm rõ những vấn đề Quốc hội, Hội đồng nhân dân yêu cầu để trình Quốc hội, Hội đồng nhân dân vào thời gian do Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định.
===Điều 71===
Trong quá trình kiểm tra, xét duyệt quyết toán thu, chi ngân sách phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
1- Những khoản thu không đúng quy định của pháp luật phải được hoàn trả tổ chức, cá nhân đã nộp; những khoản phải thu nhưng chưa thu, phải truy thu đầy đủ cho ngân sách Nhà nước;
2- Những khoản chi không đúng với quy định của pháp luật phải được thu hồi cho ngân sách Nhà nước.
==Chương VII:Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng và xử lý vi phạm==
===Điều 72===
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan quản lý Nhà nước và đơn vị dự toán ngân sách có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các chế độ thu, chi và quản lý ngân sách.
===Điều 73===
Kiểm toán Nhà nước là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện việc kiểm toán, xác định đúng đắn, hợp pháp của các số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị có nhiệm vụ thu, chi ngân sách Nhà nước theo quy định của Chính phủ.
===Điều 74===
1- Khi thực hiện nhiệm vụ, cơ quan Kiểm toán Nhà nước có quyền độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận kiểm toán của mình.
2- Cơ quan Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm báo cáo kết quả kiểm toán với Chính phủ, báo cáo với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khi có yêu cầu. Khi Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội yêu cầu kiểm toán thì cơ quan Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm thực hiện và báo cáo kết quả.
===Điều 75===
1- Thanh tra tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành pháp luật về thu, chi và quản lý ngân sách của tổ chức và cá nhân.
2- Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra tài chính đối với việc lập, chấp hành, quyết toán ngân sách được thực hiện theo quy định của pháp luật.
===Điều 76===
Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện ngân sách Nhà nước thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
===Điều 77===
Những hành vi sau đây là những hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách:
1- Che dấu nguồn thu, thu để ngoài ngân sách, trì hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách;
2- Cho miễn, giảm các khoản nộp ngân sách trái quy định hoặc không đúng thẩm quyền;
3- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm dụng, làm thiệt hại nguồn thu của ngân sách và tài sản của Nhà nước;
4- Thu sai quy định của pháp luật, chi sai chế độ, không đúng mục đích, không đúng dự toán ngân sách được duyệt, làm thất thoát kinh phí ngân sách;
5- Hạch toán sai chế độ kế toán của Nhà nước và Mục lục ngân sách Nhà nước gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước;
6- Các hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về ngân sách.
===Điều 78===
Tổ chức, cá nhân có những hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách làm tổn thất ngân sách, tài sản của Nhà nước đều phải bồi thường; tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, người có hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
===Điều 79===
Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, khởi kiện, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách. Việc khiếu nại, khởi kiện, tố cáo và việc giải quyết được thực hiện theo quy định của pháp luật.
==Chương VIII:Điều khoản thi hành==
===Điều 80===
Căn cứ vào những quy định của Luật này, Thủ tướng Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản Nhà nước đối với một số hoạt động thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
===Điều 81===
Luật này có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 1999.
Việc thu, chi, quyết toán ngân sách Nhà nước và những vấn đề phát sinh từ việc thực hiện ngân sách Nhà nước trước đây khi Luật này có hiệu lực thi hành thì được áp dụng theo pháp luật hiện hành.
===Điều 82===
Chính phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật ngân sách nhà nước cho phù hợp với Luật này.
------------------------------------
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 5 năm 1998.
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Luật pháp Việt Nam]]
2wsl2i9q6zxrpmrcsustec89cto8od7
67544
67543
2019-01-22T08:43:03Z
Én bạc
7691
wikitext
text/x-wiki
{{tương tự|Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam}}
{{đầu đề
| tựa đề = Luật sửa đổi bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1998
| tác giả = Quốc hội Việt Nam
| dịch giả =
| năm = 1998
| phần =
| trước = [[Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1996]]
| sau = [[Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2002]]
| ghi chú = Luật này được ban hành ngày 01 tháng 6 năm 1998 và hết hiệu lực ngày 01 tháng 1 năm 2004.
Xem thêm:[[Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1996]]<br>[[Luật Ngân sách Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2002]]
}}
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20 tháng 3 năm 1996.
==Chương I:Những quy định chung==
===Điều 1===
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
===Điều 2===
1- Thu ngân sách Nhà nước bao gồm: các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bôi chi được đưa vào cân đối ngân sách Nhà nước.
2- Chi ngân sách Nhà nước bao gồm: các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
===Điều 3===
Ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, có phân công trách nhiệm gắn với quyền hạn, phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp.
Quốc hội quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước.
===Điều 4===
Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (ngân sách địa phương). Quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
1. Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể;
2. Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới;
3. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;
4. Ngoài việc bổ sung nguồn thu và uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi quy định tại các khoản 2 và 3 Điều này, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.
===Điều 5===
1- Thu ngân sách Nhà nước phải được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật.
2- Chi ngân sách Nhà nước chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
A) Đã có trong dự toán ngân sách được duyệt, trừ trường hợp quy định tại các Điều 56 và 62 của Luật này;
B) Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định;
C) Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền chuẩn chi.
Ngoài các điều kiện quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này đối với những khoản chi cho công việc cần phải đấu thầu thì còn phải tổ chức đấu thầu theo quy định của Chính phủ.
3- Các ngành, các cấp, các đơn vị không được đặt ra các khoản thu, chi trái với quy định của pháp luật.
4- Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm cấp phát kịp thời các khoản chi; có quyền từ chối chi trả các khoản chi không đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
===Điều 6===
Tất cả các khoản thu, chi của ngân sách Nhà nước phải được hạch toán đây đủ vào ngân sách Nhà nước.
===Điều 7===
1- Quỹ ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay, có trên tài khoản của ngân sách Nhà nước các cấp.
2- Quy ngân sách Nhà nước được quản lý tại Kho bạc Nhà nước.
===Điều 8===
1- Ngân sách Nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi, thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách.
2- Vay bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước phải bảo đảm nguyên tắc: không sử dụng cho tiêu dùng; chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển, phải có kế hoạch thu hồi vốn vay và bảo đảm cân đối ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn.
3- Ngân sách địa phương được cân đối theo nguyên tắc tổng số chi không vượt quá tổng số thu; trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm mà vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh, thì được phép huy động vốn đầu tư trong nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và phải cân đối ngân sách cấp tỉnh để chủ động trả hết nợ khi hết hạn.
===Điều 9===
1- Dự toán chi ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương được bố trí khoản dự phòng từ 3% đến 5% tổng số chi để đáp ứng các nhu cầu chi phát sinh đột xuất trong năm ngân sách.
2- Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh được lập quỹ dự trữ tài chính từ các nguồn: tăng thu, kết dư ngân sách và bố trí trong dự toán chi ngân sách hàng năm. Quỹ dự trữ tài chính được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu chi khi nguồn thu chưa tập trung kịp và phải hoàn trả ngay trong năm ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quy định.
Mức khống chế tối đa của quỹ dự trữ tài chính ở mỗi cấp do Chính phủ quy định.
===Điều 10===
Việc ban hành và thực hiện các văn bản phát luật mới làm tăng chi hoặc giảm thu ngân sách trong năm phải có nguồn tài chính bảo đảm.
===Điều 11===
Ngân sách Nhà nước bảo đảm cân đối kinh phí hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Kinh phí hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được thực hiện theo nguyên tắc tự bảo đảm, ngân sách Nhà nước tài trợ trong một số trường hợp cụ thể theo quy định của Chính phủ.
===Điều 12===
Mọi tài sản được đầu tư, mua sắm từ nguồn ngân sách Nhà nước và tài sản khác của Nhà nước phải được quản lý chặt chẽ theo đúng chế độ quy định.
===Điều 13===
1- Thu, chi ngân sách Nhà nước được hạch toán bằng đồng Việt Nam.
2- Kế toán và quyết toán ngân sách Nhà nước được thực hiện thống nhất theo chế độ kế toán của Nhà nước và Mục lục ngân sách Nhà nước.
3- Chứng từ để thu, chi ngân sách Nhà nước do Bộ Tài chính phát hành và quản lý.
===Điều 14===
Năm ngân sách bắt đầu từ ngày 01 tháng 1 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch.
==Chương II:Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, chủ tịch nước, chính phủ, các cơ quan khác của nhà nước và trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân về ngân sách nhà nước==
===Điều 15===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội:
1- Làm luật và sửa đổi luật trong lĩnh vực ngân sách Nhà nước;
2- Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia để góp phần phát triển kinh tế, bảo đảm cân đối thu, chi ngân sách Nhà nước;
3- Quyết định dự toán ngân sách Nhà nước với tổng số thu, tổng số chi, mức bội chi và các nguồn bù đắp;
4- Quyết định phân bổ ngân sách Nhà nước theo từng loại thu, từng lĩnh vực chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ. Căn cứ vào quyết định của Quốc hội về ngân sách Nhà nước hàng năm, Quốc hội giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định phương án phân bổ ngân sách trung ương cho từng bộ, ngành và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung do Chính phủ trình và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất;
5- Quyết định danh mục các chương trình, dự án quốc gia, các công trình xây dựng cơ bản quan trọng được đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước;
6- Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách Nhà nước trong trường hợp cần thiết;
7- Giám sát việc thực hiện ngân sách Nhà nước, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, Nghị quyết của Quốc hội về ngân sách Nhà nước hàng năm, các chương trình, dự án quốc gia, các công trình xây dựng cơ bản quan trọng;
8- Phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước.
===Điều 16===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
1- Ban hành văn bản pháp luật về lĩnh vực ngân sách Nhà nước được Quốc hội giao;
2- Thực hiện nhiệm vụ của Quốc hội giao về quyết định phương án phân bổ ngân sách trung ương theo quy định tại khoản 4 Điều 15 của Luật này;
3- Giám sát việc thi hành pháp luật về ngân sách, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, Nghị quyết của Quốc hội về ngân sách Nhà nước hàng năm.
===Điều 17===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội:
1- Thẩm tra dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về lĩnh vực ngân sách;
2- Thẩm tra dự toán ngân sách Nhà nước, phân bổ ngân sách Nhà nước, các báo cáo về việc thực hiện ngân sách Nhà nước và quyết toán ngân sách Nhà nước do Chính phủ trình Quốc hội;
Thẩm tra phương án phân bổ ngân sách trung ương cho từng bộ, ngành và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chính phủ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
4- Giám sát hoạt động của Chính phủ, các ngành, các cấp trong việc thực hiện ngân sách Nhà nước và việc thực hiện pháp luật về ngân sách của các tổ chức và cá nhân;
5- Kiến nghị với Quốc hội các vấn đề về ngân sách, tài chính và tiền tệ.
===Điều 18===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội:
1- Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp với Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về lĩnh vực ngân sách do Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
2- Giám sát việc thực hiện pháp luật về ngân sách và việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực mình phụ trách.
===Điều 19===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước:
Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định trong việc ký kết, phê chuẩn điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lĩnh vực tài chính, tiền tệ.
===Điều 20===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ:
1- Trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về ngân sách Nhà nước; ban hành các văn bản pháp quy về ngân sách Nhà nước theo thẩm quyền;
2- Lập và trình Quốc hội dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước, dự toán điều chỉnh ngân sách Nhà nước trong trường hợp cần thiết;
3- Lập và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phương án phân bổ cụ thể ngân sách trung ương;
4- Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng bộ, ngành; nhiệm vụ thu, chi và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
5- Thống nhất quản lý ngân sách Nhà nước, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý ngành và địa phương trong việc thực hiện ngân sách Nhà nước;
6- Tổ chức và kiểm tra việc thực hiện ngân sách Nhà nước, báo cáo Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước, các chương trình, dự án quốc gia, các công trình xây dựng cơ bản quan trọng;
7- Quy định nguyên tắc, phương pháp tính toán việc bổ sung nguồn thu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới;
8- Quy định chế độ sử dụng khoản dự phòng ngân sách Nhà nước và quản lý quỹ dự trữ tài chính;
9- Quy định hoặc uỷ quyền cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách Nhà nước để thi hành thống nhất trong cả nước;
10- Kiểm tra Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách;
11- Lập và trình Quốc hội quyết toán ngân sách Nhà nước, quyết toán các công trình xây dựng cơ bản quan trọng của Nhà nước.
===Điều 21===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tài chính:
1- Chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về lĩnh vực ngân sách Nhà nước trình Chính phủ; ban hành các văn bản pháp quy về ngân sách Nhà nước theo thẩm quyền;
2- Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng thống nhất quản lý ngân sách Nhà nước:
A) Thống nhất quản lý và chỉ đạo công tác thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách Nhà nước;
B) Thống nhất quản lý các khoản vay và trả nợ của Chính phủ, quản lý tài chính các nguồn viện trợ quốc tế;
C) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện ngân sách Nhà nước; tổ chức thực hiện thu ngân sách Nhà nước và cấp phát các khoản chi của ngân sách Nhà nước; cho vay ưu đãi hoặc hỗ trợ tài chính đối với các dự án chương trình mục tiêu kinh tế của Nhà nước theo quy định của Chính phủ.
3- Hướng dẫn, kiểm tra các bộ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương xây dựng dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm; chủ động phối hợp với các cơ quan hữu quan ở trung ương và địa phương lập dự toán ngân sách Nhà nước, phân bổ ngân sách Nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương trình Chính phủ; đề xuất các biện pháp nhằm thực hiện chính sách tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách Nhà nước;
4- Chủ trì phối hợp với các bộ, ngành trong việc xây dựng các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách Nhà nước trình Chính phủ quyết định hoặc quyết định theo phân cấp của Chính phủ để thi hành thống nhất trong cả nước;
5- Thanh tra, kiểm tra tài chính đối với tất cả các tổ chức kinh tế, các đơn vị hành chính sự nghiệp và các đối tượng khác có nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước và sử dụng ngân sách Nhà nước;
6- Quản lý quỹ ngân sách Nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước;
7- Lập quyết toán ngân sách trung ương, tổng hợp, lập quyết toán ngân sách Nhà nước trình Chính phủ;
8- Tổ chức quản lý, kiểm tra việc sử dụng tài sản của Nhà nước.
===Điều 22===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
1- Trình Chính phủ dự án kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của cả nước và các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, trong đó có cân đối tài chính, tiền tệ, vốn đầu tư xây dựng cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch tài chính, ngân sách;
2- Phối hợp với Bộ Tài chính lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực phụ trách;
3- Phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành hữu quan kiểm tra đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư các công trình xây dựng cơ bản.
===Điều 23===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:
1- Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc lập dự toán ngân sách Nhà nước đối với kế hoạch và phương án vay để bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước;
2- Tạm ứng cho ngân sách Nhà nước để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách Nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
===Điều 24===
Nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, ngành:
1- Phối hợp với Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong quá trình lập dự toán ngân sách Nhà nước, phân bổ ngân sách Nhà nước, quyết toán ngân sách Nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách;
2- Phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra theo dõi tình hình thực hiện ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách;
3- Báo cáo tình hình thực hiện và kết quả sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách theo chế độ quy đinh;
4- Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc xây dựng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách Nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách.
===Điều 25===
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân:
1- Hội đồng nhân dân:
A) Quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương;
B) Quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương;
C) Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết;
D) Giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định;
Đ) Đối với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, ngoài nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 điều này còn có quyền quyết định thu phí, lệ phí, phụ thu và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; quyết định phân cấp chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội của địa phương do Uỷ ban nhân dân cùng cấp trình.
2- Uỷ ban nhân dân:
A) Lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương, dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;
B) Lập quyết toán ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê chuẩn và báo cáo cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;
C) Kiểm tra Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới về dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách;
D) Căn cứ vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc; nhiệm vụ thu, chi và mức bổ sung cho ngân sách cấp dưới;
Đ) Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương;
E) Phối hợp với các cơ quan Nhà nước cấp trên trong việc quản lý ngân sách Nhà nước lĩnh vực trên địa bàn;
G) Báo cáo về ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật;
H) Đối với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g khoản 2 Điều này còn có nhiệm vụ lập và trình Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề được quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều này.
===Điều 26===
Nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị dự toán ngân sách Nhà nước:
1- Tổ chức việc lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi được giao;
2- Tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân sách được giao; nộp đầy đủ đúng hạn các khoản phải nộp ngân sách theo quy định của pháp luật; chi đúng chế độ; đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm;
3- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện thu, chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc;
4- Quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước tại đơn vị theo đúng mục đích, đúng chế độ, có hiệu quả;
5- Chấp hành đúng chế độ kế toán, thống kê của Nhà nước; báo cáo tình hình thực hiện ngân sách và quyết toán ngân sách theo chế độ quy định.
===Điều 27===
Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm, nghĩa vụ:
1- Nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác vào ngân sách theo quy định của pháp luật;
2- Trường hợp được Nhà nước trợ cấp, tài trợ vốn và kinh phí theo dự toán được duyệt thì phải quản lý và sử dụng các khoản vốn và kinh phí đó đúng mục đích, đúng chế độ, tiết kiệm, có hiệu quả;
3- Chấp hành đúng chế độ kế toán, thống kê của Nhà nước.
==Chương III:Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp==
===Điều 28===
Nguồn thu của ngân sách trung ương gồm:
1. Các khoản thu 100%:
A) Thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu;
B) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
C) Thuế tiêu thụ đặc biệt, không kể thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước thu vào các mặt hàng bài lá, vàng mã, hàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê; kinh doanh gôn (golf) bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; kinh doanh ca-si-nô (casino); trò chơi bằng máy giắc-pót (jackpot); kinh doanh vé đặt cược đua ngựa, đua xe;
D) Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành;
Đ) Các khoản thuế và thu khác từ dầu khí phải nộp ngân sách trung ương theo quy định của Chính phủ;
E) Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước, tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi), thu từ quỹ dự trữ nhà nước;
G) Các khoản do Chính phủ vay; viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ theo quy định của pháp luật;
H) Các khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp vào ngân sách trung ương theo quy định của Chính phủ;
I) Thu kết dư ngân sách trung ương;
K) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh:
A) Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
B) Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;
C) Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;
D) Thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài;
Đ) Thu sử dụng vốn ngân sách.
===Điều 29===
Nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương gồm:
1- Chi thường xuyên về:
A) Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường, các sự nghiệp khác do các cơ quan trung ương quản lý;
B) Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do các cơ quan trung ương quản lý;
C) Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, trừ phần giao cho địa phương;
D) Hoạt động của các cơ quan trung ương của Nhà nước, Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội;
Đ) Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
E) Các chương trình quốc gia do Trung ương quản lý;
G) Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ;
H) Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội do Trung ương đảm nhận;
I) Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội-nghề nghiệp ở Trung ương theo quy định của pháp luật;
K) Trả lãi tiền do Chính phủ vay;
L) Viện trợ;
M) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
2- Chi đầu tư phát triển:
A) Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội không có khả năng thu hồi vốn do Trung ương quản lý;
B) Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
C) Chi cho Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các Quỹ hỗ trợ phát triển đối với các chương trình, dự án phát triển kinh tế;
D) Dự trữ Nhà nước.
3- Chi trả nợ gốc tiền do Chính phủ vay.
4- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
5- Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
===Điều 30===
Nguồn thu của ngân sách cấp tỉnh gồm:
1. Các khoản thu 100%:
A) Tiền cho thuê đất;
B) Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
C) Lệ phí trước bạ phát sinh trên địa bàn huyện, quận; không kể lệ phí trước bạ nhà, đất;
D) Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
Đ) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
E) Các khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp vào ngân sách cấp tỉnh theo quy định của Chính phủ;
G) Huy động của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ;
H) Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho ngân sách cấp tỉnh;
I) Thu kết dư ngân sách cấp tỉnh;
K) Bổ sung từ ngân sách trung ương;
L) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật này. Việc phân cấp cụ thể các khoản thu này cho ngân sách các cấp chính quyền địa phương do cấp tỉnh quy định trong phạm vi tỉnh được phân cấp.
3. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, thị trấn:
A) Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
B) Thuế nhà, đất;
C) Tiền sử dụng đất.
4. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, thị trấn, phường:
A) Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
B) Thuế tài nguyên;
C) Lệ phí trước bạ nhà, đất;
D) Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước thu vào các mặt hàng bài lá, vàng mã, hàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê; kinh doanh gôn bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; kinh doanh ca-si-nô; trò chơi bằng máy giắc-pót; kinh doanh vé đặt cược đua ngựa, đua xe.
Các khoản thu quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này, ngân sách địa phương được hưởng 100%. Việc phân cấp cụ thể các khoản thu này cho ngân sách các cấp chính quyền địa phương do cấp tỉnh quy định; riêng tỷ lệ phần trăm (%) phân chia thuế sử dụng đất nông nghiệp cho ngân sách xã, thị trấn, phường tối thiểu là 20%.
===Điều 31===
Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp tỉnh gồm:
1- Chi thường xuyên về:
A) Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do các cơ quan cấp tỉnh quản lý;
B) Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, phần giao cho cấp tỉnh;
C) Hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh;
D) Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
Đ) Thực hiện các chính sách xã hội do cấp tỉnh quản lý;
E) Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho cấp tỉnh quản lý;
G) Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
H) Trả lãi tiền vay cho đầu tư quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật này;
I) Các khoản chi phí khác theo quy định của Luật pháp.
2- Chi đầu tư phát triển:
A) Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do cấp tỉnh quản lý;
B) Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước theo quy định của Pháp luật.
3- Chi trả nợ gốc tiền vay cho đầu tư quy định tại khoản 3 Điều 8 của luật này.
4- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
5- Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
===Điều 32===
Nguồn thu của ngân sách cấp huyện gồm:
1. Các khoản thu 100%:
A) Thuế môn bài, trừ thuế môn bài thu từ các cá nhân và nhóm kinh doanh nhỏ ở xã, thị trấn;
B) Thuế sát sinh thu từ các doanh nghiệp giết mổ gia súc trên địa bàn phường;
C) Các khoản phí, lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc cấp huyện quản lý;
D) Tiền thu từ hoạt động sự nghiệp của các đơn vị do cấp huyện quản lý;
Đ) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp huyện theo quy định của pháp luật;
E) Đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ;
G) Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho ngân sách cấp huyện;
H) Thu kết dư ngân sách cấp huyện;
I) Bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh;
K) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, thị trấn, phường theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 30 của Luật này.
3. Ngoài ra, đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh được phân chia với ngân sách cấp tỉnh theo tỷ lệ phần trăm (%) khoản thu lệ phí trước bạ, không kể lệ phí trước bạ nhà, đất phát sinh trên địa bàn và được thành lập quỹ đầu tư theo quy định của Chính phủ.
===Điều 33===
Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện gồm:
1. Chi thường xuyên về:
A) Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao, xã hội và các hoạt động sự nghiệp khác do cơ quan cấp huyện quản lý; riêng về giáo dục, đào tạo, y tế theo phân cấp của cấp tỉnh;
B) Quốc phòng, an ninh và trật tự - an toàn xã hội, phần giao cho cấp huyện;
C) Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội cấp huyện;
D) Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp cấp huyện theo quy định của pháp luật;
Đ) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
E) Ngoài các nhiệm vụ chi quy định tại các điểm a, b, c, d và đ, khoản 1 Điều này, đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh còn đảm nhận thêm các nhiệm vụ chi về quản lý, duy tu, bảo dưỡng các công trình công cộng, sự nghiệp thị chính.
2. Chi đầu tư phát triển:
Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo phân cấp của tỉnh. Trong phân cấp đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh, phải có nhiệm vụ chi đầu tư xây dựng các trường phổ thông quốc lập các cấp và các công trình phúc lợi công cộng, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông đô thị, an toàn giao thông, vệ sinh đô thị.
3. Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
===Điều 34===
Nguồn thu của ngân sách xã, thị trấn gồm:
1. Các khoản thu 100%:
A) Thuế môn bài thu từ các cá nhân và nhóm kinh doanh nhỏ;
B) Thuế sát sinh;
C) Các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp thu cho ngân sách xã, thị trấn theo quy định của pháp luật;
D) Thu từ sử dụng qũy đất công ích và thu hoa lợi công sản khác;
Đ) Tiền thu từ hoạt động sự nghiệp do xã, thị trấn quản lý;
E) Các khoản đóng góp tự nguyện cho xã, thị trấn;
G) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho xã, thị trấn theo quy định của pháp luật;
H) Thu kết dư ngân sách xã, thị trấn;
I) Bổ sung từ ngân sách cấp trên;
K) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, thị trấn, phường theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 30 của Luật này.
===Điều 35===
Nhiệm vụ chi của ngân sách xã, thị trấn gồm:
1- Chi thường xuyên về:
A) Công tác xã hội và hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao do xã, thị trấn quản lý;
B) Hỗ trợ kinh phí bổ túc văn hoá, nhà trẻ mẫu giáo do xã, thị trấn quản lý;
C) Hoạt động y tế xã, thị trấn;
D) Quản lý, duy tu, bảo dưỡng các công trình kiến trúc, tài sản, công trình phúc lợi, đường giao thông do xã, thị trấn quản lý;
Đ) Hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội xã, thị trấn;
E) Công tác dân quân tự vệ; trật tự an toàn xã hội ở xã, thị trấn;
G) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
2- Chi đầu tư phát triển:
Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo phân cấp của cấp tỉnh.
===Điều 36===
Ngoài các khoản thu, chi quy định tại các điều 34 và 35 của Luật này, chính quyền xã, thị trấn được huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tắc tự nguyện. Việc quản lý khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiển soát và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
===Điều 37===
Nguồn thu của ngân sách phường gồm:
1. Các khoản thu 100%:
A) Các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp cho ngân sách phường theo quy định của pháp luật;
B) Thuế sát sinh, trừ thuế sát sinh thu từ các doanh nghiệp giết mổ gia súc;
C) Các khoản đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân cho phường;
D) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho phường theo quy định của pháp luật;
Đ) Thu kết dư ngân sách phường;
E) Bổ sung từ ngân sách cấp trên;
G) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, thị trấn, phường theo quy định tại các khoản 2 và 4 Điều 30 của Luật này.
===Điều 38===
Nhiệm vụ chi của ngân sách phường gồm:
1- Chi công tác xã hội và hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao do phường quản lý;
2- Chi về công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội ở phường;
3- Chi về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng công sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phường;
4- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
===Điều 39===
Chính phủ quy định cụ thể tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu được quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật này giữa ngân sách trung ương với ngân sách từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Căn cứ vào tỷ lệ phần trăm (%) do Chính phủ quy định cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu được quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 30, các khoản 2 và 3 Điều 32 của Luật này giữa ngân sách cấp tỉnh với ngân sách từng huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và ngân sách từng xã, phường, thị trấn.
Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giao cho từng cấp được ổn định từ 3 đến 5 năm.
===Điều 40===
Số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để cân đối thu, chi ngân sách, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội được giao, được xác định trên cơ sở tính toán các nguồn thu, nhiệm vụ chi quy định tại các điều 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 37 và 38 của Luật này theo các tiêu thức: dân số, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng, chú ý tới vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng dân tộc thiểu số và các vùng có khó khăn. Số bổ sung này được ổn định từ ba đến năm năm. Hàng năm trong trường hợp có trượt giá, căn cứ vào số bổ sung đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định và tốc độ tăng trưởng kinh tế, Chính phủ quyết định mức điều chỉnh tăng một phần theo tỷ lệ trượt giá và một phần theo tốc độ tăng trưởng kinh tế trong việc tính bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
===Điều 41===
Chính phủ quy định việc điều chỉnh các khoản thu, khoản chi của từng cấp ngân sách, quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh và mức bổ sung của ngân sách trung ương cho ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và báo cáo Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong các trường hợp đặc biệt sau đây:
1- Có yêu cầu cấp bách về quốc phòng, an ninh;
2- Biến động lớn về thu, chi ngân sách so với mức đã phân bổ.
==Chương IV:Lập dự toán ngân sách nhà nước==
===Điều 42===
1- Dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm được lập căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
2- Các khoản thu trong dự toán ngân sách phải được xác định trên cơ sở tăng trưởng kinh tế và các quy định của pháp luật về thu ngân sách.
3- Các khoản chi trong dự toán ngân sách phải được xác định trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quản lý Nhà nước và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đối với các khoản chi thường xuyên, việc lập dự toán còn phải căn cứ vào nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và tuân theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.
===Điều 43===
1- Hàng năm, Thủ tướng Chính phủ quyết định về việc lập kế hoạch kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm sau.
2- Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán ngân sách nhà Nhà nước và số kiểm tra về dự toán ngân sách Nhà nước.
===Điều 44===
1. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc thu, chi ngân sách phải tổ chức lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao và gửi cơ quan tài chính cùng cấp.
2. Cơ quan tài chính các cấp ở địa phương xem xét dự toán ngân sách của các cơ quan, đơn vị cùng cấp và dự toán ngân sách của cấp chính quyền cấp dưới, tổng hợp, lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp.
3. Thường trực Hội đồng nhân dân hoặc Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xem xét dự toán ngân sách do Uỷ ban nhân dân cùng cấp lập để báo cáo cơ quan hành chính nhà nước cấp trên tổng hợp trình Quốc hội.
Sau khi dự toán ngân sách nhà nước được Quốc hội quyết định, căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao, Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.
===Điều 45===
Bộ Tài chính xem xét dự toán ngân sách của các cơ quan trung ương, dự toán ngân sách các dịa phương; tổng hợp và lập dự toán ngân sách Nhà nước trình Chính phủ.
===Điều 46===
Trong quá trình tổng hợp, lập dự toán ngân sách, cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm:
1- Làm việc với cơ quan, đơn vị dự toán ngân sách cùng cấp, Uỷ ban nhân dân cấp dưới để điều chỉnh những điểm xét thấy cần thiết trong dự toán ngân sách;
2- Kiến nghị các biện pháp bảo đảm cân đối ngân sách theo quy định tại Điều 8 của Luật này.
Trong quá trình làm việc, lập dự toán ngân sách Nhà nước, nếu có ý kiến khác nhau giữa Bộ Tài chính và các cơ quan trung ương, các địa phương, thì Bộ Tài chính phải trình Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ những ý kiến còn khác nhau để quyết định theo thẩm quyền. Nguyên tắc này cũng được áp dụng trong quá trình lập dự toán ngân sách các cấp ở địa phương.
===Điều 47===
Dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước theo từng loại thu, từng lĩnh vực chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ trình Quốc hội phải kèm theo tài liệu về các vấn đề sau đây:
1- Tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước năm trước, những căn cứ xây dựng dự toán ngân sách Nhà nước, những nội dung cơ bản và những giải pháp nhằm thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước;
2- Các nhiệm vụ chi ngân sách Nhà nước, trong đó nêu rõ những mục tiêu, chương trình quan trọng của nền kinh tế quốc dân và những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước có liên quan đến ngân sách Nhà nước;
3- Các nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước kèm theo những giải pháp nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước;
4- Bội chi ngân sách Nhà nước và các nguồn bù đắp; tỷ lệ bội chi so với tổng sản phẩm trong nước;
5- Báo cáo các khoản nợ của Nhà nước, trong đó nêu rõ số nợ đến hạn phải trả, số nợ quá hạn trả, số lãi phải trả trong năm, số nợ sẽ phát sinh thêm do phải vay để bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước, khả năng trả nợ trong năm và số nợ đến cuối năm;
6- Những chính sách và biện pháp cụ thể nhằm ổn định tài chính, tiền tệ và ngân sách Nhà nước;
7- Danh mục các dự án đầu tư cho các công trình xây dựng cơ bản quan trọng thuộc nguồn ngân sách Nhà nước;
8- Các tài liệu khác nhằm thuyết minh rõ dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước;
===Điều 48===
Dự toán ngân sách Nhà nước năm sau phải được gửi đến đại biểu Quốc hội chậm nhất là mười ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội cuối năm trước.
===Điều 49===
Các tài liệu cần thiết phải có kèm theo dự toán ngân sách địa phương trình hội đồng nhân dân do Chính phủ quy định.
===Điều 50===
1. Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước năm sau trước ngày 30 tháng 11 năm trước.
2. Trong trường hợp dự toán ngân sách nhà nước chưa được Quốc hội quyết định, Chính phủ lập lại dự toán ngân sách nhà nước trình Quốc hội vào thời gian do Quốc hội quyết định.
3. Hội đồng nhân dân căn cứ vào dự toán ngân sách được cấp trên giao, căn cứ vào nguồn thu, nhiệm vụ chi đã được phân cấp cho địa phương và chế độ, chính sách hiện hành, quyết định dự toán ngân sách địa phương theo thời gian quy định của Chính phủ.
===Điều 51===
Việc phân bổ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương năm sau cho các đơn vị sử dụng ngân sách phải được thực hiện trước ngày 31 tháng 12 năm trước.
===Điều 52===
Trong quá trình thảo luận và quyết định dự toán ngân sách tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân, khi quyết định dự toán ngân sách về việc tăng các khoản chi hoặc bổ sung khoản chi mới, Quốc hội, Hội đồng nhân dân đồng thời xem xét và quyết định các giải pháp để bảo đảm cân đối ngân sách.
===Điều 53===
Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên có quyền yêu cầu Hội đồng nhân dân cấp dưới điều chỉnh lại dự toán ngân sách, nếu việc bố trí ngân sách của địa phương không phù hợp với quyết định của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp trên.
===Điều 54===
Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thời gian lập dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước.
==Chương V:Chấp hành ngân sách nhà nước==
===Điều 55===
Khi nhận được số phân bổ về ngân sách, các cơ quan Nhà nước và các đơn vị dự toán ngân sách giao nhiệm vụ cho các đơn vị trực thuộc bảo đảm đúng với dự toán ngân sách được phân bổ; đồng thời thông báo cho cơ quan tài chính cùng cấp và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để theo dõi, cấp pháp và quản lý. Ngoài cơ quan giao ngân sách, không một tổ chức hoặc cá nhân nào được thay đổi nhiệm vụ ngân sách đã được phân bổ.
===Điều 56===
Trong trường hợp vào đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, cơ quan tài chính các cấp được phép tạm cấp kinh phí cho các nhu cầu chi không thể trì hoãn được cho tới khi dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách được quyết định.
===Điều 57===
1- Các cơ quan Nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đề ra những biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi ngân sách được giao, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham ô; chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật tài chính.
2- Các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức và cá nhân phải chấp hành nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của pháp luật; sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước đúng mục đích, đúng chế độ, tiết kiệm, có hiệu quả.
===Điều 58===
1- Cơ quan tài chính các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách phải nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản phải nộp vào ngân sách Nhà nước; nếu nộp chậm mà không có lý do chính dáng, căn cứ vào yêu cầu của cơ quan tài chính, các ngân hàng và Kho bạc Nhà nước phải trích từ tài khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân nộp chậm để nộp ngân sách Nhà nước hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho ngân sách.
2- Các khoản chi thường xuyên theo định kỳ phải được bố trí kinh phí đều trong năm để chi; các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc mua sắm lớn phải có kế hoạch với cơ quan tài chính để chủ động bố trí kinh phí.
===Điều 59===
1- Chỉ cơ quan thuế và cơ quan Nhà nước giao nhiệm vụ thu ngân sách (gọi chung là cơ quan thu) được tổ chức thu ngân sách Nhà nước.
2- Cơ quan thu có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
A) Phối hợp với các cơ quan Nhà nước hữu quan, tổ chức đúng pháp luật; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của Uỷ ban nhân dân và sự giám sát của Hội đồng nhân dân về công tác thu ngân sách tại địa phương; phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tuyên truyền, vận động các tổ chức và công dân thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật;
B) Kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu của ngân sách Nhà nước;
C) Xác định và thông báo cho các tổ chức, cá nhân số thuế hoặc các khoản thu phải nộp ngân sách Nhà nước;
D) Kiểm tra việc chấp hành thu, nộp ngân sách Nhà nước và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
3- Toàn bộ các khoản thu ngân sách phải được nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt cơ quan thu được phép tổ chức thu trực tiếp, nhưng phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào Kho bạc Nhà nước theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
===Điều 60===
Việc cấp phát kinh phí ngân sách Nhà nước được thực hiện theo quy định sau đây:
1- Căn cứ vào dự toán ngân sách Nhà nước được giao, các đơn vị sử dụng ngân sách lập kế hoạch chi gửi cơ quan tài chính cùng cấp và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để chủ động bố trí kinh phí;
2- Cơ quan tài chính xem xét kế hoạch chi của đơn vị và căn cứ vào khả năng ngân sách để bố trí mức chi hàng quý, thông báo cho đơn vị để thực hiện;
3- Căn cứ vào mức chi do cơ quan tài chính thông báo, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách ra lệnh chuẩn chi, Kho bạc Nhà nước kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật và thực hiện việc cấp phát, thanh toán;
4- Mọi khoản chi ngân sách Nhà nước được thực hiện khi có đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật này và theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước. Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc thực hiện nguyên tắc này.
===Điều 61===
Nghiêm cấm tăng chi về quỹ tiền lương đã ghi trong dự toán ngân sách được duyệt, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép.
Chi đầy tư xây dựng cơ bản phải bảo đảm cấp đủ và đúng tiến độ trong phạm vi kế hoạch được giao, những khoản chi khác chỉ được phép điều chỉnh trong phạm vi dự toán được phân bổ và theo quy định của Chính phủ, trừ trường hợp quy định tại các khoản 2 và 3 Điều 62 của Luật này.
===Điều 62===
Trong quá trình chấp hành ngân sách nhà nước, nếu có sự thay đổi về thu, chi thì thực hiện như sau:
1. Số tăng thu và tiết kiệm chi so với dự toán được giao được sử dụng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ hoặc để bổ sung quỹ dự trữ tài chính và tăng chi cho các khoản cần thiết khác theo quy định của Chính phủ;
2. Trường hợp số thu không đạt dự toán được duyệt, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được phép điều chỉnh giảm một số khoản chi tương ứng, đồng thời báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Quốc hội, Hội đồng nhân dân cùng cấp trong kỳ họp gần nhất;
3. Trường hợp có nhu cầu chi đột xuất ngoài dự toán nhưng không thể trì hoãn được mà khoản dự phòng ngân sách không đủ đáp ứng, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phải sắp xếp lại các khoản chi trong dự toán được giao để có nguồn đáp ứng nhu cầu chi đột xuất đó;
4. Hàng năm, trong trường hợp có số tăng thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt so với nhiệm vụ thu được giao, không kể thuế tiêu thụ đặc biệt quy định tại khoản 4 Điều 30 của Luật này, Chính phủ quyết định trích một phần theo tỷ lệ phần trăm (%) của số tăng thu đó cho ngân sách cấp tỉnh để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng và báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
5. Trường hợp quỹ ngân sách nhà nước thiếu hụt tạm thời, phải sử dụng quỹ dự trữ tài chính để xử lý. Riêng đối với ngân sách trung ương nếu quỹ dự trữ tài chính không đáp ứng được, Ngân hàng nhà nước tạm ứng cho ngân sách trung ương theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Tạm ứng từ quỹ dự trữ tài chính của ngân sách các cấp và tạm ứng từ Ngân hàng nhà nước của Ngân sách trung ương phải được hoàn trả trong năm ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
===Điều 63===
Các đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước có nhiệm vụ báo cáo định kỳ tình hình thực hiện chi ngân sách Nhà nước gửi cơ quan tài chính theo quy định của pháp luật. Trường hợp vi phạm chế độ báo cáo, cơ quan tài chính có quyền tạm đình chỉ cấp phát kinh phí cho tới khi nhận được báo cáo.
==Chương VI:Kế toán và quyết toán ngân sách nhà nước==
===Điều 64===
Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, chi ngân sách Nhà nước phải tổ chức hạch toán kế toán, báo cáo và quyết toán theo đúng chế độ kế toán Nhà nước.
===Điều 65===
1- Cuối năm ngân sách, Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn việc khoá sổ kế toán và lập báo cáo quyết toán ngân sách theo đúng các nội dung ghi trong dự toán năm được duyệt và theo Mục lục ngân sách Nhà nước.
2- Tất cả các khoản thu thuộc ngân sách các năm trước nộp trong năm sau phải ghi vào ngân sách năm sau. Các khoản chi ngân sách năm trước chưa thực hiện, chỉ được đưa vào dự toán năm sau khi được cơ quan có thẩm quyền quyết định.
===Điều 66===
Kết dư ngân sách trung ương, ngân sách cấp tỉnh được trích năm mươi phần trăm chuyển vào quỹ dự trữ tài chính, năm mươi phần trăm (50%) chuyển vào ngân sách năm sau, nếu quỹ dự trữ tài chính đã đủ mức giới hạn thì chuyển số còn lại vào ngân sách năm sau. Kết dư ngân sách cấp huyện, ngân sách xã, thị trấn, phường chuyển vào ngân sách năm sau.
===Điều 67===
1- Căn cứ vào hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Tài chính, thủ trưởng các đơn vị có nhiệm vụ thu, chi ngân sách lập quyết toán thu, chi ngân sách của đơn vị mình gửi cơ quan quản lý cấp trên.
2- Số liệu quyết toán phải được đối chiếu và được Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch xác nhận.
3- Thủ trưởng các đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm kiểm tra và duyệt quyết toán thu, chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc, lập quyết toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi mình quản lý gửi cơ quan tài chính cùng cấp.
===Điều 68===
1- Cơ quan tài chính các cấp ở địa phương xét duyệt quyết toán thu, chi ngân sách của các cơ quan cùng cấp, thẩm tra quyết toán ngân sách cấp dưới, tổng hợp lập quyết toán ngân sách địa phương trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp để Uỷ ban nhân dân xem xét trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê chuẩn, báo cáo cơ quan hành chính Nhà nước và cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.
2- Bộ Tài chính xét duyệt quyết toán thu, chi ngân sách của các cơ quan trung ương, thẩm tra quyết toán ngân sách địa phương, tổng hợp, lập quyết toán ngân sách Nhà nước trình Chính phủ để Chính phủ xem xét trình Quốc hội phê chuẩn.
===Điều 69===
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc tổ chức kiểm toán, quyết toán ngân sách Nhà nước trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn.
===Điều 70===
1- Quốc hội xem xét, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước; Hội đồng nhân dân xem xét, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương.
2- Trong trường hợp quyết toán ngân sách chưa được Quốc hội, Hội đồng nhân dân phê chuẩn thì Chính phủ, Uỷ ban nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và cơ quan Kiểm toán Nhà nước đã kiểm toán phải tiếp tục làm rõ những vấn đề Quốc hội, Hội đồng nhân dân yêu cầu để trình Quốc hội, Hội đồng nhân dân vào thời gian do Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định.
===Điều 71===
Trong quá trình kiểm tra, xét duyệt quyết toán thu, chi ngân sách phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
1- Những khoản thu không đúng quy định của pháp luật phải được hoàn trả tổ chức, cá nhân đã nộp; những khoản phải thu nhưng chưa thu, phải truy thu đầy đủ cho ngân sách Nhà nước;
2- Những khoản chi không đúng với quy định của pháp luật phải được thu hồi cho ngân sách Nhà nước.
==Chương VII:Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng và xử lý vi phạm==
===Điều 72===
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan quản lý Nhà nước và đơn vị dự toán ngân sách có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các chế độ thu, chi và quản lý ngân sách.
===Điều 73===
Kiểm toán Nhà nước là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện việc kiểm toán, xác định đúng đắn, hợp pháp của các số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị có nhiệm vụ thu, chi ngân sách Nhà nước theo quy định của Chính phủ.
===Điều 74===
1- Khi thực hiện nhiệm vụ, cơ quan Kiểm toán Nhà nước có quyền độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận kiểm toán của mình.
2- Cơ quan Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm báo cáo kết quả kiểm toán với Chính phủ, báo cáo với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khi có yêu cầu. Khi Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội yêu cầu kiểm toán thì cơ quan Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm thực hiện và báo cáo kết quả.
===Điều 75===
1- Thanh tra tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành pháp luật về thu, chi và quản lý ngân sách của tổ chức và cá nhân.
2- Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra tài chính đối với việc lập, chấp hành, quyết toán ngân sách được thực hiện theo quy định của pháp luật.
===Điều 76===
Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện ngân sách Nhà nước thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
===Điều 77===
Những hành vi sau đây là những hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách:
1- Che dấu nguồn thu, thu để ngoài ngân sách, trì hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách;
2- Cho miễn, giảm các khoản nộp ngân sách trái quy định hoặc không đúng thẩm quyền;
3- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm dụng, làm thiệt hại nguồn thu của ngân sách và tài sản của Nhà nước;
4- Thu sai quy định của pháp luật, chi sai chế độ, không đúng mục đích, không đúng dự toán ngân sách được duyệt, làm thất thoát kinh phí ngân sách;
5- Hạch toán sai chế độ kế toán của Nhà nước và Mục lục ngân sách Nhà nước gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước;
6- Các hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về ngân sách.
===Điều 78===
Tổ chức, cá nhân có những hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách làm tổn thất ngân sách, tài sản của Nhà nước đều phải bồi thường; tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, người có hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
===Điều 79===
Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, khởi kiện, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách. Việc khiếu nại, khởi kiện, tố cáo và việc giải quyết được thực hiện theo quy định của pháp luật.
==Chương VIII:Điều khoản thi hành==
===Điều 80===
Căn cứ vào những quy định của Luật này, Thủ tướng Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản Nhà nước đối với một số hoạt động thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
===Điều 81===
Luật này có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 1999.
Việc thu, chi, quyết toán ngân sách Nhà nước và những vấn đề phát sinh từ việc thực hiện ngân sách Nhà nước trước đây khi Luật này có hiệu lực thi hành thì được áp dụng theo pháp luật hiện hành.
===Điều 82===
Chính phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật ngân sách nhà nước cho phù hợp với Luật này.
------------------------------------
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 5 năm 1998.
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Luật pháp Việt Nam]]
rdnu90lqraqf5zm8znbqixwc9uaug1s
Bản mẫu:Vạch
10
20030
67529
66801
2019-01-22T03:22:37Z
Vinhtantran
484
wikitext
text/x-wiki
<hr style="background-color: #000; color: #000; width: {{{rộng|{{{1|auto}}}}}}; {{#switch:{{{canh}}}|trái=margin: 2px auto 2px 0px|phải=margin: 2px 0px 2px auto|#default=margin: 2px auto 2px auto}}; {{#if:{{{cao|}}}|height: {{{cao}}};}} {{#if:{{{style|}}}|{{{style}}};|}}" /><noinclude>{{documentation}}</noinclude>
ms2herhla0hyykuyrp2o4a770jpagxd
Bản mẫu:Đường kẻ
10
20950
67530
52899
2019-01-22T03:23:20Z
Vinhtantran
484
Vinhtantran đã đổi [[Bản mẫu:Thanh ngang]] thành [[Bản mẫu:Đường kẻ]]: có nghĩa hơn
wikitext
text/x-wiki
<!--
Outer span defines the strike-though.
If CSS is not available, this will disappear.
--><span style="text-decoration:line-through;"><!--
inner span holds the em-dashes, which are transparent.
If CSS is not available, these will appear again.
--><span style="color:transparent !important;">{{Vòng lặp
| {{{1|6}}}
| —
}}</span></span><noinclude>
{{documentation}}
<noinclude>
fjj2c4xra6u84rb8ao2jahe385l0h47
Bản mẫu:Bar
10
20951
67536
52900
2019-01-22T03:57:32Z
Vinhtantran
484
Thay đổi trang đích của đổi hướng từ [[Bản mẫu:Thanh ngang]] sang [[Bản mẫu:Đường kẻ]]
wikitext
text/x-wiki
#đổi [[Bản mẫu:Đường kẻ]]
kxpix04m09a549lxb9i2lodlg0g6sal
Bản mẫu:Đường kẻ/doc
10
20952
67532
60068
2019-01-22T03:23:21Z
Vinhtantran
484
Vinhtantran đã đổi [[Bản mẫu:Thanh ngang/doc]] thành [[Bản mẫu:Đường kẻ/doc]]: có nghĩa hơn
wikitext
text/x-wiki
<noinclude>{{Trang con tài liệu bản mẫu}}</noinclude>
===Cách sử dụng===
<!-- liên kết thể loại bản mẫu và liên wiki -->
<includeonly>
[[Thể loại:Bản mẫu định dạng]]
</includeonly>
2xaepu8e1o0l3h6v05lqe1rbwicbclm
67534
67532
2019-01-22T03:28:58Z
Vinhtantran
484
wikitext
text/x-wiki
{{documentation subpage}}
==Cách dùng==
Bản mẫu này tạo ra một đường kẻ bên trong dòng, đôi khi dùng để đánh dấu một đoạn văn bị xóa, bị thiếu hoặc sự liên tục của đoạn trích.
Bạn ''không'' nên dùng dãy dấu gạch ngắn để tạo ra hiệu ứng tương tự, vì một số trình duyệt hoặc phông chữ sẽ nhìn giống như đường thẳng bị đứt. Bản mẫu này không phù hợp cho đường vạch ngang ở giữa trang - đã có bản mẫu {{tl|vạch}} cho mục đích đó.
Bản mẫu nhận một tham số, chiều dài của đường kẻ, theo đơn vị "em", mặc định là 6.
===Ví dụ===
<pre>
{{bar}}{{lorem ipsum}}
</pre>
{{bar}}{{lorem ipsum}}
<pre>
<poem>
{{bar|3}}phần còn lại của dòng
toàn bộ dòng ở đây, chuyện này vẫn ổn cho đến khi
chỉ còn lại nửa dòng{{bar|3}}
</poem>
</pre>
<poem>
{{bar|3}}phần còn lại của dòng
toàn bộ dòng ở đây, chuyện này vẫn ổn cho đến khi
chỉ còn lại nửa dòng{{bar|3}}
</poem>
===Kỹ thuật===
Bản mẫu này dùng hai thẻ "span", một thẻ để tạo ra một đường gạch ngang qua chữ và một thẻ dùng để giữ vị trí các dấu gạch dài 1em ẩn. Có một số điểm lợi như sau:
* không dùng thẻ <nowiki><s></nowiki> đã lạc hậu (HTML 4.01) và định nghĩa lại (trong HTML 5)
* sao chép vì dùng gạch dài em (—) thay vì khoảng trắng
* hiện ra gạch dài em nếu CSS bị tắt hoặc không dùng được
==Xem thêm==
* {{tl|vạch}}
<!-- template categories and interwiki links -->
<includeonly>
[[Category:Bản mẫu định dạng|{{PAGENAME}}]]
</includeonly>
3jafghfkkl0uvw166dp8flmowhw8zpn
Nghị định số 22/2018/NĐ-CP
0
22490
67524
63173
2019-01-22T02:12:01Z
Tranminh360
1642
/* Điều 27. Sử dụng tác phẩm thuộc về Nhà nước */
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Nghị định số 22/2018/NĐ-CP
| tác giả = Chính phủ Việt Nam
| dịch giả =
| phần =
| trước = [[Nghị định số 21/2018/NĐ-CP]]
| sau = [[Nghị định số 23/2018/NĐ-CP]]
| năm = 2018
| ghi chú = Nghị định được ban hành ngày 23 tháng 2 năm 2018
}}
{{g|'''NGHỊ ĐỊNH'''
QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005 VÀ LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2009 VỀ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN}}
<i>Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ [[Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005|Luật sở hữu trí tuệ]] ngày 29 tháng 11 năm 2005 và [[Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009|Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ]] ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan.</i>
==Chương I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG==
===Điều 1. Phạm vi điều chỉnh===
Nghị định này quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 (sau đây gọi chung là Luật sở hữu trí tuệ) về quyền tác giả, quyền liên quan.
===Điều 2. Đối tượng áp dụng===
Nghị định này áp dụng đối với:
1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ.
2. Tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan.
3. Cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan.
===Điều 3. Giải thích từ ngữ===
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Tác phẩm di cảo là tác phẩm được công bố lần đầu sau khi tác giả chết.
2. Tác phẩm khuyết danh là tác phẩm không hoặc chưa có tên tác giả (tên khai sinh hoặc bút danh) trên tác phẩm khi công bố.
3. Định hình là sự biểu hiện bằng chữ viết, các ký tự khác, đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định để từ đó có thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt.
4. Bản gốc tác phẩm là bản được tồn tại dưới dạng vật chất mà trên đó việc sáng tạo tác phẩm được định hình lần đầu tiên.
5. Bản sao của tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
6. Bản ghi âm, ghi hình là bản định hình các âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác hoặc việc định hình sự tái hiện lại các âm thanh, hình ảnh không phải dưới hình thức định hình gắn với tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự.
7. Bản sao của bản ghi âm, ghi hình là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
8. Công bố cuộc biểu diễn đã định hình hoặc bản ghi âm, ghi hình là việc phát hành các bản sao của cuộc biểu diễn đã được định hình hoặc bản ghi âm, ghi hình tới công chúng với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền liên quan.
9. Tái phát sóng là việc truyền dẫn phát sóng lại hoặc tiếp sóng chương trình của một tổ chức phát sóng.
10. Tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa là tín hiệu vệ tinh mang chương trình được truyền đi mà một trong hai đặc tính âm thanh, hình ảnh hoặc cả hai đặc tính này đã được biến đổi, thay đổi nhằm mục đích ngăn cản những người không có thiết bị giải mã tín hiệu vệ tinh hợp pháp thu trái phép chương trình truyền trong tín hiệu đó.
11. Tác phẩm của tổ chức, cá nhân nước ngoài được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam là tác phẩm chưa được công bố ở bất kỳ nước nào trước khi công bố tại Việt Nam.
12. Công bố đồng thời là việc công bố tác phẩm của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở bất kỳ nước nào.
13. Nhuận bút là khoản tiền do bên sử dụng tác phẩm trả cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả trong trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả.
14. Thù lao là khoản tiền do bên sử dụng tác phẩm trả cho chủ sở hữu quyền tác giả; bên sử dụng cuộc biểu diễn trả cho người biểu diễn hoặc chủ sở hữu cuộc biểu diễn.
15. Quyền lợi vật chất là khoản tiền do bên sử dụng bản ghi âm, ghi hình trả cho nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, bên sử dụng chương trình phát sóng trả cho tổ chức phát sóng.
16. Quyền lợi vật chất khác là các lợi ích mà tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan được hưởng ngoài tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất như việc nhận giải thưởng, nhận sách biếu khi xuất bản, nhận vé mời xem chương trình biểu diễn, trình chiếu tác phẩm điện ảnh, trưng bày, triển lãm tác phẩm.
===Điều 4. Chính sách của Nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan===
1. Hỗ trợ tài chính để mua bản quyền cho các cơ quan, tổ chức Nhà nước có nhiệm vụ phổ biến tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có giá trị tư tưởng, khoa học, giáo dục và nghệ thuật phục vụ lợi ích công cộng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
2. Ưu tiên đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức làm công tác quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan từ trung ương đến địa phương.
3. Ưu tiên đầu tư, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.
4. Đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan. Tăng cường giáo dục kiến thức về quyền tác giả, quyền liên quan trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác phù hợp với từng cấp học, trình độ đào tạo.
5. Huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư nâng cao năng lực hệ thống bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
===Điều 5. Trách nhiệm và nội dung quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan===
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan.
2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan, có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
:a) Xây dựng, ban hành, chỉ đạo và tổ chức thực hiện pháp luật, cơ chế, chính sách bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.
:b) Thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.
:c) Quản lý, khai thác quyền tác giả đối với tác phẩm, quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng thuộc về sở hữu nhà nước; nhận chuyển giao quyền tác giả của các tổ chức, cá nhân cho nhà nước theo quy định của pháp luật.
:d) Hướng dẫn việc cung cấp, hợp tác, đặt hàng, sử dụng và đảm bảo quyền tác giả đối với tác phẩm, quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.
:đ) Tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về quyền tác giả, quyền liên quan.
:e) Quản lý hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan, tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan.
:g) Cấp, cấp lại, đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
:h) Lập và quản lý Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan.
:i) Xuất bản và phát hành Công báo về quyền tác giả, quyền liên quan.
:k) Tổ chức, chỉ đạo hoạt động giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật, cơ chế, chính sách và hoạt động thông tin, thống kê về quyền tác giả, quyền liên quan.
:l) Quản lý hoạt động giám định về quyền tác giả, quyền liên quan.
:m) Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan; giải quyết khiếu nại, tố cáo về quyền tác giả, quyền liên quan.
:n) Thực hiện hợp tác quốc tế về quyền tác giả, quyền liên quan.
3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch trong việc quản lý nhà nước về quyền tác giả quyền liên quan.
4. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan tại địa phương, có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
:a) Tổ chức các hoạt động bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan tại địa phương; thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân về quyền tác giả, quyền liên quan.
:b) Thanh tra, kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo, vi phạm các quy định pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan tại địa phương.
:c) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
==Chương II. QUYỀN TÁC GIẢ==
===Điều 6. Tác giả, đồng tác giả===
1. Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.
2. Đồng tác giả là những tác giả cùng trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.
3. Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả hoặc đồng tác giả.
===Điều 7. Tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự khác===
Tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự khác quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm thể hiện bằng chữ nổi cho người khiếm thị, ký hiệu tốc ký và các ký hiệu tương tự thay cho chữ viết mà các đối tượng tiếp cận có thể sao chép được bằng nhiều hình thức khác nhau.
===Điều 8. Quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác===
1. Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định.
2. Trong trường hợp tác giả tự thực hiện việc định hình bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác dưới hình thức bản ghi âm, ghi hình, thì tác giả được hưởng quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác, đồng thời là chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại khoản 2 Điều 44 của Luật sở hữu trí tuệ .
===Điều 9. Tác phẩm báo chí===
Tác phẩm báo chí quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, bao gồm các thể loại: Phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, ký báo chí và các thể loại báo chí khác nhằm đăng, phát trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các phương tiện khác.
===Điều 10. Tác phẩm âm nhạc===
Tác phẩm âm nhạc quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn.
===Điều 11. Quyền tác giả đối với tác phẩm sân khấu===
1. Tác phẩm sân khấu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn, bao gồm: Chèo, tuồng, cải lương, múa rối, kịch nói, kịch dân ca, kịch hình thể, nhạc kịch, xiếc, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác.
2. Tác phẩm sân khấu được sáng tạo bởi các tác giả quy định tại khoản 1 Điều 21 của Luật sở hữu trí tuệ.
3. Tác giả được hưởng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.
4. Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ ; chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.
5. Tác giả và tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sáng tạo tác phẩm có thể thỏa thuận về việc sửa chữa tác phẩm.
===Điều 12. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh===
1. Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bằng hình ảnh động kết hợp hoặc không kết hợp với âm thanh và các phương tiện khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh. Hình ảnh tĩnh được lấy ra từ một tác phẩm điện ảnh là một phần của tác phẩm điện ảnh đó.
2. Tác phẩm điện ảnh được sáng tạo bởi các tác giả quy định tại khoản 1 Điều 21 của Luật sở hữu trí tuệ.
3. Tác giả được hưởng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.
4. Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ ; chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.
5. Tác giả và tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sáng tạo tác phẩm có thể thỏa thuận về việc sửa chữa tác phẩm.
===Điều 13. Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng===
1. Tác phẩm tạo hình quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục như: Hội họa, đồ họa, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện tương tự, tồn tại dưới dạng độc bản. Riêng đối với loại hình đồ họa, có thể được thể hiện tới phiên bản thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ ký của tác giả.
2. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp như: Thiết kế đồ họa (hình thức thể hiện của biểu trưng, hệ thống nhận diện và bao bì sản phẩm), thiết kế thời trang, tạo dáng sản phẩm, thiết kế nội thất, trang trí.
===Điều 14. Tác phẩm nhiếp ảnh===
Tác phẩm nhiếp ảnh quy định tại điểm h khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm thể hiện hình ảnh thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra, hay có thể được tạo ra bằng các phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹ thuật khác. Tác phẩm nhiếp ảnh có thể có chú thích hoặc không có chú thích.
===Điều 15. Quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc===
1. Tác phẩm kiến trúc quy định tại điểm i khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm thuộc loại hình kiến trúc, bao gồm:
:a) Bản vẽ thiết kế kiến trúc về công trình hoặc tổ hợp các công trình, nội thất, phong cảnh.
:b) Công trình kiến trúc.
2. Tác giả được hưởng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.
3. Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ ; chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.
4. Tác giả và tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sáng tạo tác phẩm có thể thỏa thuận về việc sửa chữa tác phẩm.
===Điều 16. Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ===
Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ quy định tại điểm k khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ bao gồm họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, các loại công trình khoa học và kiến trúc.
===Điều 17. Quyền tác giả đối với chương trình máy tính===
1. Tác giả được hưởng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.
2. Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ ; chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ.
3. Tác giả và tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sáng tạo chương trình máy tính có thể thỏa thuận về việc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính.
4. Tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp bản sao chương trình máy tính có thể làm một bản sao dự phòng, để thay thế khi bản sao đó bị mất, bị hư hỏng hoặc không thể sử dụng được.
===Điều 18. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian===
1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Luật sở hữu trí tuệ là các loại hình nghệ thuật ngôn từ.
2. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại các điểm b và c khoản 1 Điều 23 của Luật sở hữu trí tuệ là các loại hình nghệ thuật biểu diễn như chèo, tuồng, cải lương, múa rối, điệu hát, làn điệu âm nhạc; điệu múa, vở diễn, trò chơi dân gian, hội làng, các hình thức nghi lễ dân gian.
3. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 23 của Luật sở hữu trí tuệ được bảo hộ không phụ thuộc vào việc định hình.
4. Sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật sở hữu trí tuệ là việc sưu tầm, nghiên cứu, biểu diễn, giới thiệu giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
5. Dẫn chiếu xuất xứ loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật sở hữu trí tuệ là việc chỉ ra nguồn gốc, địa danh của cộng đồng cư dân nơi tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được hình thành.
===Điều 19. Đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả===
1. Tin tức thời sự thuần túy đưa tin quy định tại khoản 1 Điều 15 của Luật sở hữu trí tuệ là các thông tin báo chí ngắn hàng ngày, chỉ mang tính chất đưa tin không có tính sáng tạo.
2. Văn bản hành chính quy định tại khoản 2 Điều 15 của Luật sở hữu trí tuệ bao gồm văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân.
===Điều 20. Quyền nhân thân===
1. Quyền đặt tên cho tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ. Quyền này không áp dụng đối với tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.
2. Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao hợp lý để đáp ứng nhu cầu của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm, do tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.
3. Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính trừ trường hợp có thoả thuận của tác giả.
===Điều 21. Quyền tài sản===
1. Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện biểu diễn tác phẩm một cách trực tiếp hoặc thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được. Biểu diễn tác phẩm trước công chúng bao gồm việc biểu diễn tác phẩm tại bất cứ nơi nào mà công chúng có thể tiếp cận được.
2. Quyền sao chép tác phẩm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử.
3. Quyền phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm.
4. Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc đưa tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm đến công chúng mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn.
5. Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính quy định tại điểm e khoản 1 Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc cho thuê để khai thác, sử dụng có thời hạn.
6. Quyền cho thuê đối với chương trình máy tính không áp dụng trong trường hợp bản thân chương trình đó không phải là đối tượng chủ yếu để cho thuê như chương trình máy tính gắn với việc vận hành bình thường các loại phương tiện giao thông hoặc các máy móc, thiết bị kỹ thuật khác.
===Điều 22. Sao chép tác phẩm===
1. Tự sao chép một bản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 của Luật sở hữu trí tuệ áp dụng đối với các trường hợp nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân không nhằm mục đích thương mại.
2. Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật sở hữu trí tuệ là việc sao chép không quá một bản. Thư viện không được sao chép và phân phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số.
===Điều 23. Trích dẫn hợp lý tác phẩm===
Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình quy định tại điểm b khoản 1 Điều 25 của Luật sở hữu trí tuệ phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
1. Phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩm của mình.
2. Phần trích dẫn từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn; phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn.
===Điều 24. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm di cảo===
Thời hạn bảo hộ quyền nhân thân quy định tại khoản 3 Điều 19 và quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm di cảo là năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên.
===Điều 25. Chủ sở hữu quyền tác giả===
Chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại Điều 36 của Luật sở hữu trí tuệ bao gồm:
1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam.
2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam.
3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam.
4. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
===Điều 26. Chuyển nhượng quyền đối với tác phẩm khuyết danh===
Việc hưởng quyền đối với tác phẩm khuyết danh quy định tại khoản 2 Điều 41 và điểm a khoản 1 Điều 42 của Luật sở hữu trí tuệ được thực hiện như sau:
1. Tổ chức, cá nhân đang quản lý tác phẩm khuyết danh được chuyển nhượng quyền đối với tác phẩm khuyết danh cho tổ chức, cá nhân khác và được hưởng thù lao từ việc chuyển nhượng quyền đó.
2. Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền theo quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng quyền của chủ sở hữu đến khi danh tính của tác giả được xác định.
===Điều 27. Sử dụng tác phẩm thuộc về Nhà nước===
1. Tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo tác phẩm là đại diện Nhà nước - chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đó.
2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm thuộc sở hữu nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này phải được phép của chủ sở hữu quyền tác giả và tôn trọng quyền nhân thân theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ.
3. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm thuộc sở hữu nhà nước quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 42 của Luật sở hữu trí tuệ phải tôn trọng quyền nhân thân theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ.
4. Các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khi phát hiện các hành vi xâm phạm quyền tác giả quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
===Điều 28. Sử dụng tác phẩm thuộc về công chúng===
1. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm thuộc về công chúng quy định tại Điều 43 của Luật sở hữu trí tuệ phải tôn trọng quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ.
2. Các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan khi phát hiện các hành vi xâm phạm quyền nhân thân theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ thì có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai; có quyền khiếu nại, tố cáo, yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ các quyền nhân thân đối với những tác phẩm của Hội viên đã kết thúc thời hạn bảo hộ.
==Chương III. QUYỀN LIÊN QUAN==
===Điều 29. Quyền của người biểu diễn===
1. Quyền sao chép trực tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 29 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra các bản sao khác từ bản ghi âm, ghi hình đó.
2. Quyền sao chép gián tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 29 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra các bản sao khác không từ bản ghi âm, ghi hình đó như việc sao chép từ chương trình phát sóng, mạng thông tin điện tử, viễn thông và các hình thức tương tự khác.
3. Quyền truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 29 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc phổ biến cuộc biểu diễn chưa được định hình đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào ngoài phát sóng.
===Điều 30. Trích dẫn hợp lý cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng===
1. Trích dẫn hợp lý nhằm mục đích cung cấp thông tin theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật sở hữu trí tuệ là việc sử dụng các trích đoạn nhằm mục đích thuần túy đưa tin.
2. Việc trích dẫn hợp lý quy định tại khoản 1 Điều này phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
:a) Phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề trong việc cung cấp thông tin.
:b) Phần trích dẫn từ cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng không gây phương hại đến quyền của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, quyền của tổ chức phát sóng đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được sử dụng để trích dẫn; phù hợp với tính chất, đặc điểm của cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được sử dụng để trích dẫn.
===Điều 31. Bản sao tạm thời===
Bản sao tạm thời quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32 của Luật sở hữu trí tuệ là bản định hình có thời hạn, do tổ chức phát sóng thực hiện bằng các phương tiện thiết bị của mình, nhằm phục vụ cho buổi phát sóng ngay sau đó của chính tổ chức phát sóng. Trong trường hợp đặc biệt thì bản sao đó được lưu trữ tại trung tâm lưu trữ chính thức.
===Điều 32. Sử dụng bản ghi âm, ghi hình===
1. Sử dụng trực tiếp bản ghi âm, ghi hình đã được công bố nhằm mục đích thương mại để thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật sở hữu trí tuệ là việc tổ chức phát sóng dùng chính bản ghi âm, ghi hình đó để phát sóng bằng phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả việc truyền qua vệ tinh, môi trường kỹ thuật số.
2. Sử dụng gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã được công bố nhằm mục đích thương mại để thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật sở hữu trí tuệ là việc tiếp sóng, phát lại chương trình đã phát sóng; chuyển chương trình trong môi trường kỹ thuật số lên sóng.
3. Sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của Luật sở hữu trí tuệ là việc tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã được công bố để sử dụng tại nhà hàng, khách sạn, cửa hàng, siêu thị; cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ bưu chính, viễn thông, môi trường kỹ thuật số; trong các hoạt động du lịch, hàng không, giao thông công cộng.
4. Việc hưởng tiền thù lao của người biểu diễn trong trường hợp bản ghi âm, ghi hình được sử dụng theo quy định tại Điều 33 của Luật Sở hữu trí tuệ tùy thuộc vào thoả thuận của người biểu diễn với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình khi thực hiện chương trình ghi âm, ghi hình.
===Điều 33. Sử dụng chương trình phát sóng===
1. Chủ sở hữu chương trình phát sóng theo quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật sở hữu trí tuệ là tổ chức phát sóng đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để phát sóng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Khi sử dụng các tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình để sản xuất chương trình phát sóng, tổ chức phát sóng phải thực hiện nghĩa vụ với chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định pháp luật.
3. Tổ chức, cá nhân sử dụng chương trình phát sóng của tổ chức phát sóng khác theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 31 của Luật sở hữu trí tuệ để tái phát sóng hoặc truyền trên mạng viễn thông, thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào thực hiện theo thỏa thuận và các quy định pháp luật liên quan. Việc sửa đổi, cắt xén, bổ sung chương trình phát sóng của tổ chức phát sóng khác để tái phát sóng hoặc truyền trên mạng viễn thông, thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác phải có sự thỏa thuận với chủ sở hữu chương trình phát sóng.
==Chương IV. ĐĂNG KÝ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN==
===Điều 34. Thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan===
1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả hoặc Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng). Hồ sơ có thể gửi qua đường bưu điện.
2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm, chương trình biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 13 và Điều 17 của Luật sở hữu trí tuệ trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả hoặc Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng).
===Điều 35. Cấp, cấp lại, đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan===
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả) có thẩm quyền cấp, cấp lại, đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 51 của Luật sở hữu trí tuệ,
2. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan được cấp theo quy định tại Điều 49 và Điều 50 của Luật sở hữu trí tuệ.
3. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan được cấp lại trong trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan bị mất hoặc rách nát.
4. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan được cấp đổi trong trường hợp thay đổi chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc thay đổi thông tin về tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.
5. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan bị hủy bỏ hiệu lực trong các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 55 của Luật sở hữu trí tuệ.
6. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định các mẫu Tờ khai đăng ký quyền tác giả, Tờ khai đăng ký quyền liên quan, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 50 và khoản 4 Điều 51 của Luật sở hữu trí tuệ.
===Điều 36. Hồ sơ cấp, cấp lại, đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan===
1. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan quy định tại Điều 50 của Luật sở hữu trí tuệ.
2. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có nhu cầu cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan nộp Tờ khai đăng ký quyền tác giả hoặc Tờ khai đăng ký quyền liên quan (theo mẫu), 02 bản sao tác phẩm hoặc 02 bản sao cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.
3. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có nhu cầu cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan nộp Tờ khai đăng ký quyền tác giả hoặc Tờ khai đăng ký quyền liên quan (theo mẫu); 02 bản sao tác phẩm hoặc 02 bản sao cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; tài liệu chứng minh sự thay đổi và nộp lại Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả hoặc Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan đã cấp.
===Điều 37. Thời hạn cấp, cấp lại, đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan===
1. Thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan quy định tại Điều 52 của Luật sở hữu trí tuệ.
2. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả) có trách nhiệm cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
3. Trong thời hạn mười hai ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả) có trách nhiệm cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
4. Trường hợp từ chối cấp lại, đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả) phải thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn.
===Điều 38. Bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả, bản sao bản định hình đối tượng đăng ký quyền liên quan===
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả) có trách nhiệm lưu giữ 01 bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả hoặc 01 bản sao bản định hình đối tượng đăng ký quyền liên quan; 01 bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả hoặc 01 bản sao bản định hình đối tượng đăng ký quyền liên quan được đóng dấu ghi số Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan gửi trả lại cho tổ chức, cá nhân được cấp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 50 của Luật sở hữu trí tuệ.
2. Bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 50 của Luật sở hữu trí tuệ được thay thế bằng ảnh chụp không gian ba chiều đối với những tác phẩm có đặc thù riêng như tranh, tượng, tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng gắn với công trình kiến trúc; tác phẩm có kích thước quá lớn, cồng kềnh.
===Điều 39. Hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan===
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả) có thẩm quyền hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan trong các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 55 của Luật sở hữu trí tuệ.
2. Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ khi nhận được một trong các giấy tờ dưới đây, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả) ra quyết định hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan:
:a) Bản án, Quyết định có hiệu lực của Tòa án hoặc Quyết định của cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quy định tại Điều 200 của Luật sở hữu trí tuệ về việc hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
:b) Văn bản của tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả) đề nghị hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan đã được cấp.
===Điều 40. Phí đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan===
Tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp phí khi tiến hành thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của pháp luật.
===Điều 41. Hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan===
Các loại Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan do Hãng Bảo hộ quyền tác giả Việt Nam, Cơ quan Bảo hộ quyền tác giả Việt Nam, Cục Bản quyền tác giả Văn học - Nghệ thuật, Cục Bản quyền tác giả cấp vẫn tiếp tục được duy trì hiệu lực.
==Chương V. TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN TẬP THỂ, TỔ CHỨC TƯ VẤN, DỊCH VỤ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN==
===Điều 42. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan===
Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật sở hữu trí tuệ thực hiện đúng phạm vi, chức năng hoạt động và hợp đồng ủy quyền giữa chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan và tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan về việc quản lý một quyền hoặc một nhóm quyền cụ thể.
===Điều 43. Biểu mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất===
1. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan xây dựng Biểu mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất quy định tại khoản 3 Điều 20, khoản 4 Điều 29 của Luật sở hữu trí tuệ và quyền lợi vật chất quy định tại khoản 2 Điều 30, khoản 2 Điều 31 của Luật sở hữu trí tuệ.
2. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng theo quy định tại khoản 1 Điều 26, khoản 1 và khoản 2 Điều 33 của Luật sở hữu trí tuệ có nghĩa vụ liên lạc trực tiếp với chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan về việc khai thác, sử dụng.
Trường hợp không liên lạc trực tiếp được với chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thì tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm, bản ghi âm ghi hình, chương trình phát sóng phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
3. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có trách nhiệm thoả thuận về mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất và phương thức thanh toán.
4. Nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất được xác định theo các nguyên tắc sau:
:a) Việc trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất phải bảo đảm lợi ích của người sáng tạo, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng và công chúng hưởng thụ, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
:b) Mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất được xác định căn cứ vào thể loại, hình thức, chất lượng, số lượng hoặc tần suất khai thác, sử dụng.
:c) Các đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận về tỷ lệ phân chia tiền nhuận bút, thù lao theo mức độ sáng tạo, phù hợp với hình thức khai thác, sử dụng.
:d) Mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất được xác định trong hợp đồng bằng văn bản theo quy định pháp luật.
===Điều 44. Thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất===
1. Việc thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất thực hiện theo quy định tại Điều lệ hoạt động của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan và văn bản ủy quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thỏa thuận về mức hoặc tỷ lệ phần trăm, phương thức và thời gian phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất.
2. Việc thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được khai thác, sử dụng theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều tổ chức đại diện tập thể được ủy quyền đại diện cho một quyền, nhóm quyền cụ thể, các tổ chức có thể thỏa thuận để một tổ chức thay mặt đàm phán cấp phép sử dụng, thu và phân chia tiền theo Điều lệ và văn bản ủy quyền.
4. Việc thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất từ các tổ chức tương ứng của nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế thực hiện theo quy định về quản lý ngoại hối.
===Điều 45. Khai thác, sử dụng bản ghi âm, ghi hình===
1. Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 33 của Luật sở hữu trí tuệ phải trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.
2. Các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có thể thỏa thuận, thống nhất, ủy quyền đàm phán, thu tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất theo quy định của pháp luật. Tỷ lệ phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất thu được do các tổ chức này tự thỏa thuận.
3. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan ủy quyền có trách nhiệm xây dựng danh mục hội viên, tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng của hội viên và chịu trách nhiệm khi ký hợp đồng ủy quyền cho tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan nhận ủy quyền đại diện đàm phán thỏa thuận, thu tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất.
4. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan nhận ủy quyền chỉ có trách nhiệm đàm phán thỏa thuận thu tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất theo danh mục hội viên, tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được quy định tại hợp đồng ủy quyền.
===Điều 46. Thông tin quản lý quyền tác giả, quyền liên quan===
Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thông tin công khai trên trang thông tin điện tử của tổ chức mình về các nội dung:
1. Tên tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.
2. Đối với cá nhân: Ngày, tháng, năm sinh; năm chết (nếu có).
Đối với tổ chức: Ngày, tháng, năm thành lập; năm giải thể (nếu có).
3. Tên tác phẩm, tên đối tượng quyền liên quan (cuộc biểu diễn; bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng).
4. Nội dung tác phẩm; nội dung cuộc biểu diễn; nội dung bản ghi âm, ghi hình; nội dung chương trình phát sóng.
5. Phạm vi ủy quyền; hiệu lực hợp đồng ủy quyền.
6. Hoạt động cấp phép, thu và phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất.
7. Hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan.
8. Các thông tin liên quan khác.
===Điều 47. Thực hiện chế độ báo cáo===
1. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện chế độ báo cáo với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và cơ quan chủ quản về việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ, quy chế hoạt động; cơ chế quản lý tài chính; thay đổi nhân sự lãnh đạo; tham gia các tổ chức quốc tế; các hoạt động đối ngoại khác; biểu giá, phương thức thanh toán nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất; chương trình kế hoạch dài hạn và hàng năm; tình hình hoạt động, ký hợp đồng ủy quyền, hợp đồng cấp phép sử dụng; hoạt động thu, mức thu, phương thức phân phối, cách thức thực hiện việc phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất; các hoạt động liên quan khác.
Trường hợp sửa đổi, bổ sung Điều lệ phải báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện.
2. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan xây dựng trang thông tin điện tử, kết nối với cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan và các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan.
3. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có hệ thống cơ sở dữ liệu quyền tác giả, quyền liên quan của tổ chức mình, kết nối với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan.
===Điều 48. Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan===
Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan quy định tại khoản 1 Điều 57 của Luật sở hữu trí tuệ bao gồm:
1. Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật về doanh nghiệp.
2. Hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo pháp luật về hợp tác xã.
3. Đơn vị sự nghiệp.
4. Các tổ chức hành nghề luật sư được thành lập và hoạt động theo pháp luật về luật sư, trừ chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật trách nhiệm hữu hạn một trăm phần trăm vốn nước ngoài, công ty luật trách nhiệm hữu hạn dưới hình thức liên doanh giữa tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam và tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.
==Chương VI. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH==
===Điều 49. Bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan===
1. Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan trực tiếp hoặc có thể ủy quyền cho tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan hoặc tổ chức, cá nhân khác để thực hiện và bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan của mình. Bên được ủy quyền có trách nhiệm thông tin công khai để các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng liên hệ thỏa thuận về việc khai thác, sử dụng.
2. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có nghĩa vụ liên hệ với chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc bên được ủy quyền để thỏa thuận về việc khai thác, sử dụng theo quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan.
3. Tranh chấp về quyền tác giả, quyền liên quan được giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc trọng tài.
===Điều 50. Hiệu lực thi hành===
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 4 năm 2018.
2. Các văn bản sau đây hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành:
:a) [[Nghị định số 100/2006/NĐ-CP]] ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan;
:b) [[Nghị định số 100/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung 2011|Nghị định số 85/2011/NĐ-CP]] ngày 20 tháng 9 năm 2011 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan.
===Điều 51. Trách nhiệm thi hành===
1. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm hướng dẫn thi hành và tổ chức thực hiện Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
{{văn|canh lề=right|TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
[[w:Nguyễn Xuân Phúc|Nguyễn Xuân Phúc]]
}}
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Nghị định]]
[[Thể loại:Luật bản quyền]]
j5ml4qf48jmhcju332y0rzw61cjy2un
Bản mẫu:Vạch/doc
10
22835
67528
66803
2019-01-22T03:21:50Z
Vinhtantran
484
/* Cách sử dụng */
wikitext
text/x-wiki
<noinclude>{{Trang con tài liệu bản mẫu}}</noinclude>
{{documentation subpage}}
===Cách sử dụng===
Bản mẫu này chèn một đường kẻ ngang đen. Nó nên dùng khi chuyển văn bản từ bản scan thay cho cú pháp wiki "----" vì cú pháp wiki sẽ có màu hơi nhạt hơn. Ngoài ra không chắc cách xử lý "----" có bị thay đổi về sau hay không. [http://www.w3schools.com/tags/tag_hr.asp Xem] để biết thêm về vấn đề với [X]HTML 5.
Ví dụ
<nowiki>{{vạch}}</nowiki>
cho ra
{{vạch}}
Vạch đôi có thể được tạo ra bằng
<nowiki>{{vạch}}{{vạch}}</nowiki>
cho ra
{{vạch}}{{vạch}}
====Rộng====
Bạn có thể cung cấp chiều rộng tùy chọn, bằng đơn vị ''em'' hoặc ''%'' để in ra đường vạch ngang với chiều dài chỉ định nằm ở giữa trang.
Ví dụ
<nowiki>{{vạch|rộng=12em}}</nowiki>
và
<nowiki>{{vạch|12em}}</nowiki>
Đều cho ra
{{vạch|12em}}
====Cao====
Bạn có chỉnh chiều cao bằng cách dùng tham số {{parameter|cao}}:
<nowiki>{{vạch|cao=3px}}</nowiki>
{{vạch|cao=3px}}
====Canh lề====
Một vài trường hợp hiếm cần canh lề vạch ngang, dùng tham số ''canh''.
Ví dụ
<nowiki>{{vạch|6em|canh=trái}}</nowiki>
cho ra
{{vạch|6em|canh=trái}}
====Style====
Cuối cùng, bất kỳ kiểu HTML đặc biệt nào khác có thể dùng tham số ''style''.
Ví dụ
<nowiki>{{vạch|rộng=12em|cao=1em|style=background-color:orange;border:1px solid black}}</nowiki>
cho ra
{{vạch|rộng=12em|cao=1em|style=background-color:orange;border:1px solid black}}
===Xem thêm===
* {{tl|phân tách}} để tạo ra hàng dấu chấm
* {{tl|vạch tùy chỉnh}} để có vạch được trang trí tùy chỉnh
* {{tl|Gạch dài}} để tạo gạch dài trong dòng
* {{tl|Đường kẻ}} để tạo ra một đường kẻ ngang với chiều dài tùy ý
<includeonly>
[[Category:Bản mẫu định dạng|{{PAGENAME}}]]
</includeonly>
1shtzxice5048xjjzdgkm7oamavxkaj
Trợ giúp:Bản mẫu
12
23788
67535
66846
2019-01-22T03:56:54Z
Vinhtantran
484
/* Character formatting */
wikitext
text/x-wiki
{{Đề mục diễn tiến
| tựa đề = Bản mẫu
| đề mục =
| trước = [[Trợ giúp:Nội dung]]
| sau =
| viết tắt = [[TG:BM]]
| ghi chú = Trang này giới thiệu với biên tập viên Wikisource mới (lẫn cũ) những bản mẫu thường hay sử dụng khi soạn thảo.
''Xem thêm cây thể loại dành cho bản mẫu: [[:Thể loại:Bản mẫu Wikisource|Bản mẫu Wikisource]]''
}}
{{đang viết}}
__TOC__
Bản mẫu là cách viết tắt đặt trong cặp dấu ngoặc móc để thực hiện các chức năng khác nhau trong Wikisource. Khi bạn hiệu đính và sửa đổi văn kiện trong Wikisource, bạn có thể dùng bản mẫu để hỗ trợ trong việc định dạng, di chuyển, và các nhiệm vụ khác.
==Bản mẫu định dạng==
Bản mẫu định dạng được dùng để thay đổi cách hiển thị văn bản khi đọc.
===Viết in/hoa ký tự===
Thay đổi cách viết hoa bằng các bản mẫu {{tl|IN}}, {{tl|thường}}, {{tl|in nhỏ}} và {{tl|In}}. Tuy không nhất thiết phải sử dụng các bản mẫu viết in/hoa, viết thường, và viết in/hoa chữ đầu, nếu dùng thì chỉ nên dùng với mục đích đơn thuần là định dạng trong tác phẩm (ví dụ một số tựa đề tác phẩm có định dạng đặc biệt), đừng dùng vì mục đích chính tả hoặc ngữ pháp (ví dụ như trong một từ đồng nghĩa).
{| style="border;none; text-align:left; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"
|'''Bản mẫu'''
|'''Tên khác'''
|'''Ví dụ'''
|'''Kết quả'''
|-
|{{tl|IN}}
|{{tl|HOA}}, {{tl|uc}}
|<tt><nowiki>{{IN|chữ in}}</nowiki></tt>
|{{IN|chữ in}}
|-
|{{tl|thường}}
|{{tl|lc}}
|<tt><nowiki>{{thường|CHỮ THƯỜNG}}</nowiki></tt>
|{{thường|CHỮ THƯỜNG}}
|-
|{{tl|in nhỏ}}
|{{tl|sc}}
|<tt><nowiki>{{in nhỏ|In Nhỏ}}</nowiki></tt>
|{{in nhỏ|In Nhỏ}}
|-
|{{tl|In}}
|{{tl|Hoa}}, {{tl|Capitalize}}
|<tt><nowiki>{{In|viết in chữ đầu}}</nowiki></tt>
|{{In|viết in chữ đầu}}
|}
===Cỡ chữ===
{{Trợ giúp:Bản mẫu cỡ chữ}}
===Thụt dòng và Canh lề===
Văn bản được mặc định canh lề trái, nhưng khi muốn canh lề bên trái bằng tay, có thể dùng {{tl|trái}}. Để đặt nổi một khối văn bản về phía trái mà không làm ảnh hưởng đến canh lề văn bản bên trong khối, dùng {{tl|khối trái}} hoặc {{tl|nổi trái}}.
Để canh lề phải cho văn bản, dùng {{tl|phải}}. Để đặt nổi một khối văn bản về phía phải mà không làm ảnh hưởng đến canh lề văn bản bên trong khối, dùng {{tl|khối phải}} hoặc {{tl|nổi phải}}.
Để canh giữa cho văn bản, dùng {{tl|giữa}}. Để đặt nổi một khối văn bản về giữa mà không làm ảnh hưởng đến canh lề văn bản bên trong khối, dùng {{tl|khối giữa}} hoặc {{tl|nổi giữa}}.
{| style="border;none; text-align:trái; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:giữa;"
|'''Bản mẫu'''
|'''Ví dụ'''
|'''Kết quả'''
|-
|{{tl|trái}}
|<tt><nowiki>{{trái|văn bản này<br/>canh lề trái}}</nowiki></tt>
|{{trái|văn bản này<br/>canh lề trái}}
|-
|{{tl|giữa}}, {{tl|g}}
|<tt><nowiki>{{giữa|văn bản này<br/>canh giữa}}</nowiki></tt>
|{{giữa|văn bản này<br/>canh giữa}}
|-
|{{tl|phải}}
|<tt><nowiki>{{phải|văn bản này<br/>canh lề phải}}</nowiki></tt>
|{{phải|văn bản này<br/>canh lề phải}}
|-
|{{tl|khối trái}}, {{tl|nổi trái}}
|<tt><nowiki>{{khối trái|khối văn bản này<br/>canh lề trái}}</nowiki></tt>
|{{khối trái|khối văn bản này<br/>canh lề trái}}
|-
|{{tl|khối giữa}}
|<tt><nowiki>{{khối giữa|khối văn bản này<br/>canh giữa}}</nowiki></tt>
|{{khối giữa|khối văn bản này<br/>canh giữa}}
|-
|{{tl|khối phải}}, {{tl|nổi phải}}
|<tt><nowiki>{{khối phải|khối văn bản này<br/>canh lề phải}}</nowiki></tt>
|{{khối phải|khối văn bản này<br/>canh lề phải}}
|}
Để thụt dòng đầu tiên của đoạn văn bản, có thể dùng bản mẫu {{tl|vào hàng}}. Dùng {{tl|không vào hàng}} để không vào hàng một đoạn văn bản bên trong khối. Chú ý rằng thông thường đối với các tác phẩm được chuyển văn bản tại Wikisource, thụt dòng cho nhiều đoạn văn là điều không cần thiết, và đoạn văn phải được phân tách bằng một dòng trống ở giữa.
Để thụt dòng cho toàn bộ các dòng của một đoạn văn bản ngoại trừ hàng đầu, dùng {{tl|ra hàng}}. Để vào hàng nguyên một khối văn bản về phía trái, dùng bản mẫu {{tl|biên trái}}. Bản mẫu {{tl|hàng}} phối hợp tính năng của {{tl|biên trái}}, {{tl|vào hàng}} và {{tl|ra hàng}}.
Để chèn một khoảng trắng cố định trong văn bản, dùng {{tl|cách}}
{| style="border;none; text-align:trái; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:top;"
|'''Bản mẫu'''
|'''Ví dụ'''
|width=400px|'''Kết quả'''
|-
|{{tl|vào hàng}}, {{tl|không vào hàng}}
|<tt><nowiki>{{vào hàng|2em|</nowiki>
Đoạn văn này có dòng đầu tiên được thụt vào. Đây không phải là cách hiển thị thông thường trừ khi dùng bản mẫu "văn" hoặc một số cách hiển thị văn bản chèn từ sách. Chỉ dùng khi có một lý do rõ ràng cần phải dùng.
Đoạn văn này, và các đoạn văn theo sau, cũng sẽ có dòng đầu thụt vào.
<nowiki>{{không vào hàng|Trừ khi bạn dùng "không vào hàng". Đoạn này có dòng đầu không bị thụt vào.}}</nowiki>
<nowiki>}}</nowiki></tt>
|{{vào hàng|2em|Đoạn văn này có dòng đầu tiên được thụt vào. Đây không phải là cách hiển thị thông thường trừ khi dùng bản mẫu "văn" hoặc một số cách hiển thị văn bản chèn từ sách. Chỉ dùng khi có một lý do rõ ràng cần phải dùng.
Đoạn văn này, và các đoạn văn theo sau, cũng sẽ có dòng đầu thụt vào.
{{không vào hàng|Trừ khi bạn dùng "không vào hàng". Đoạn này có dòng đầu không bị thụt vào.}}
}}
|-
|{{tl|ra hàng}}
|<tt><nowiki>{{ra hàng|Đoạn văn này được thụt lùi ra, thường chỉ dùng khi trong các mục dài trong bảng hoặc danh sách}}</nowiki></tt>
|{{ra hàng|Đoạn văn này được thụt lùi ra, thường chỉ dùng khi trong các mục dài trong bảng hoặc danh sách}}
|-
|{{tl|biên trái}}
|<tt><nowiki>{{biên trái|2em|Khối văn bản này được thụt từ trái 2em, để dời nó so với phần thân chính}}</nowiki></tt>
|{{biên trái|2em|Khối văn bản này được thụt từ trái 2em, để dời nó so với phần thân chính}}
|-
|{{tl|hàng}}
|<tt><nowiki>{{hàng|4em|-2em|Khối văn bản này được định dạng với cả biên trái và ra hàng}}</nowiki></tt>
|{{hàng|4em|-2em|Khối văn bản này được định dạng với cả biên trái và ra hàng}}
|}
===Định dạng ký tự===
Để làm cho ký tự đầu tiên của đoạn văn lớn hơn và "chảy" xuống dòng dưới, dùng {{tl|dropcap}}. Để sao chép dạng ký tự lớn nhưng không chảy xuống dòng dưới, dùng {{tl|chữ đầu lớn}}.
Để sao chép một đường gạch ngang trong một đoạn văn bản (thường để chỉ một đoạn văn bản bị thiếu hoặc bị xóa đi) dùng {{tl|đường kẻ}} vì nhiều dấu gạch m-dash đôi khi bị hiển thị thành đường thẳng gạch đứt.
Để tạo ra dấu ngoặc móc lớn kéo qua nhiều hàng chữ, dùng {{tl|móc}} hoặc {{tl|móc2}}. "móc" bị giới hạn chỉ dùng cùng hoặc bên trong bảng, "móc2" dùng tất cả mọi nơi.
Bản mẫu {{tl|'}}, {{tl|(}} và {{tl|)}} cho phép chèn ký tự đặc biệt {{'}}, {{(}}, và {{)}} khi khó hoặc không thể dùng mã wiki để tạo.
{| style="border;none; text-align:left; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"
|'''Bản mẫu'''
|'''Ví dụ'''
|'''Kết quả'''
|-
|{{tl|dropcap}}, {{tl|dropinitial}}, {{tl|dc}}
|<tt><nowiki>{{dc|D}}rop cap thường hay được dùng trong nhiều loại tác phẩm khác nhau</nowiki></tt>
|{{dc|D}}rop cap thường hay được dùng trong nhiều loại tác phẩm khác nhau
|-
|{{tl|chữ đầu lớn}}
|<tt><nowiki>{{chữ đầu lớn|C}}hữ đầu lớn ít phổ biến hơn, nhưng thường dễ định dạng hơn</nowiki></tt>
|{{chữ đầu lớn|C}}hữ đầu lớn ít phổ biến hơn, nhưng thường dễ định dạng hơn.
|-
|{{tl|đường kẻ}}
|<tt><nowiki>Dùng đường kẻ {{bar|3}} để thay cho nhiều đường gạch m-dash</nowiki></tt>
|Dùng đường kẻ {{bar|3}} để thay cho nhiều đường gạch m-dash
|-
|-
|{{tl|ngoặc}}
|<tt><nowiki>{| {{tham số bảng móc}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Foo||{{móc|r|t}}||<tt><nowiki>{{móc|r|t}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Bar||{{móc|r|s}}||<tt><nowiki>{{móc|r|s}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Spam||{{móc|r|mt}}||<tt><nowiki>{{móc|r|mt}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Eggs||{{móc|r|mb}}||<tt><nowiki>{{móc|r|mb}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Bread||{{móc|r|s}}||<tt><nowiki>{{móc|r|s}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Text||{{móc|r|m}}||<tt><nowiki>{{móc|r|m}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Text||{{móc|r|b}}||<tt><nowiki>{{móc|r|b}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Stuff||{{móc|r|ht}}||<tt><nowiki>{{móc|r|ht}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Things||{{móc|r|hb}}||<tt><nowiki>{{móc|r|hb}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|}</nowiki></tt>
|
{| {{tham số bảng móc}}
|Foo||{{móc|r|t}}||<tt><nowiki>{{móc|r|t}}</nowiki></tt>
|-
|Bar||{{móc|r|s}}||<tt><nowiki>{{móc|r|s}}</nowiki></tt>
|-
|Spam||{{móc|r|mt}}||<tt><nowiki>{{móc|r|mt}}</nowiki></tt>
|-
|Eggs||{{móc|r|mb}}||<tt><nowiki>{{móc|r|mb}}</nowiki></tt>
|-
|Bread||{{móc|r|s}}||<tt><nowiki>{{móc|r|s}}</nowiki></tt>
|-
|Text||{{móc|r|m}}||<tt><nowiki>{{móc|r|m}}</nowiki></tt>
|-
|Text||{{móc|r|b}}||<tt><nowiki>{{móc|r|b}}</nowiki></tt>
|-
|Stuff||{{móc|r|ht}}||<tt><nowiki>{{móc|r|ht}}</nowiki></tt>
|-
|Things||{{móc|r|hb}}||<tt><nowiki>{{móc|r|hb}}</nowiki></tt>
|}
|-
|{{tl|ngoặc2}}
|<tt><nowiki>{{móc2|}} {{móc2|2}} {{móc2|4|r}} {{móc2|1|l}} {{móc2|3|l}}</nowiki></tt>
|{{móc2|}} {{móc2|2}} {{móc2|4|r}} {{móc2|1|l}} {{móc2|3|l}}
|-
|{{tl|'}}, {{tl|(}} và {{tl|)}}
|<tt><nowiki>dấu nháy đơn: {{'}}; đóng mở ngoặc móc: {{(}} {{)}}</nowiki></tt>
|dấu nháy đơn: {{'}}; đóng mở ngoặc móc: {{(}} {{)}}.
|}
===Roman Numerals===
In the interest of data quality {{tl|Roman-to-arabic}} is available to facilitate entering metadata like publication date from the original page; it eases proofreading, allowing comparison of page and text directly—also allows conversion algorithm to be audited by automated testing.
{|
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"
|'''Template''' || '''Result'''
|-
| {{tlx|Roman-to-arabic|CDLXXVI}} || {{Roman-to-arabic|CDLXXVI}}
|-
| {{tlx|Roman-to-arabic|MDCCLXXVI}} || {{Roman-to-arabic|MDCCLXXVI}}
|-
| {{tlx|Roman-to-arabic|MMXVIII}} || {{Roman-to-arabic|MMXVIII}}
|}
===Separations===
Use {{tl|rule}} in preference of "----" for the creation of horizontal lines spanning the page. In addition, rule can create horizontal separators of any length. For more fancy lines, {{tl|custom rule}} is available.
For breaking up discontinuous runs of pages, for example when separating blocks of transluded front and end matter (ex. Title Page, Dedication, Contents) to one page, use {{tl|page break}}
{| style="border;none; text-align:left; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"
|'''Template'''
|'''Example'''
|'''Result'''
|-
|{{tl|rule}}
|<tt><nowiki>{{rule}}{{rule}}</nowiki></tt>
<tt><nowiki>{{rule|height=4px}}{{rule}}</nowiki></tt>
<tt><nowiki>{{rule|5em}}</nowiki></tt>
|{{rule}}{{rule}}
{{rule|height=4px}}{{rule}}
{{rule|5em}}
|-
|{{tl|custom rule}}
|<tt><nowiki>{{Custom rule|sp|100|d|6|sp|10|d|10|sp|10|d|6|sp|100}}</nowiki></tt>
<tt><nowiki>{{custom rule|c|6|sp|40|do|7|fy1|40|do|7|sp|40|c|6}}</nowiki></tt>
|{{Custom rule|sp|100|d|6|sp|10|d|10|sp|10|d|6|sp|100}}
{{custom rule|c|6|sp|40|do|7|fy1|40|do|7|sp|40|c|6}}
|-
|{{tl|separator}}
|<tt><nowiki>{{separator}}</nowiki></tt>
|{{separator}}
|-
|{{tl|***}}
|<tt><nowiki>{{***}}</nowiki></tt>
<tt><nowiki>{{***|5|3em|char=@}}</nowiki></tt>
|{{***}}
{{***|5|3em|char=@}}
|-
|{{tl|page break}}
|<tt><nowiki>{{page break}}</nowiki></tt>
|{{page break}}
|}
===General formatting===
Text can be colored using the {{tl|greyed}} and {{tl|red}} templates. Red text was often used as a highlight in older works, especially on the title page. Greyed text can be used to indicate (important) text that has been written or typed onto the original document. {{tl|RunningHeader}} or {{tl|rh}} creates a left justified, a centered, and a right justified block of text all on the same line, and is most often used in the Page [[H:NS|namespace]], in the [[H:HEADER|header field]] to replicate page headers. {{tl|gap}} is used wherever a gap of greater than one space is required.
{| style="border;none; text-align:left; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"
|'''Template'''
|'''Example'''
|'''Result'''
|-
|{{tl|greyed}}, {{tl|red}}, {{tl|green}}
|<tt><nowiki>{{greyed|grey text}}, {{red|red text}}, {{green|green text}}</nowiki></tt>
|{{greyed|grey text}}, {{red|red text}}, {{green|green text}}
|-
|{{tl|RunningHeader}} or {{tl|rh}}
|<tt><nowiki>{{RunningHeader|Left text|Center text|Right text}}</nowiki></tt>
|{{RunningHeader|Left text|Center text|Right text}}
|-
|{{tl|gap}}
|text with a{{tlx|gap|5em}}gap!
|text with a{{gap|5em}}gap!
|}
===Column formatting===
<section begin="column formatting"/>
<!--this section is transcluded to the template docs' See Also sections - make sure it makes sense there as well-->
* {{tl|multicol}}, {{tl|multicol-break}}, {{tl|multicol-section}}, {{tl|multicol-end}}, this template uses a table to create multiple columns of text. You need to place the breaks explicitly, but they will never move.
* {{tl|div col}}, {{tl|div col end}}, which uses CSS3 properties to create columns dynamically. The reader's browser will choose where best to put the breaks, so the layout cannot be guaranteed not to change. This one is good for lists, as you don't need to worry about placing {{tl|multicol-break}}s.
<section end="column formatting"/>
==Navigation Templates==
<section begin="navigation templates"/><!--Used for transclusion to TOC template doc pages-->
Navigation templates are used to help a reader navigate through or between texts.
{| style="border;none; text-align:left; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"
|'''Template'''
|style="width:15em"|'''You type'''
|'''You get'''
|style="width:20em"|'''Notes'''
|-<!--1ST ROW-->
|{{tl|TOC}}
|<tt><nowiki>{{TOC}}</nowiki></tt>
|{{TOC}}
| Used to provide a compact TOC to an alphabetical listing.
|-<!--2ND ROW-->
|{{tl|AuxTOC}}
|<tt><nowiki>{{AuxTOC|</nowiki><br>
<nowiki>* [[/Chapter 1/]]}}</nowiki></tt>
|{{AuxTOC|
* [[/Chapter 1/]]}}
|Used when the work does ''not'' include an original Table of Contents.
|-
| {{tl|TOC begin}},<Br> {{tl|TOC end}} and <br>all <nowiki>{{TOC row....}}</nowiki>'s
|
<tt><nowiki>{{TOC begin}}</nowiki><br>
<nowiki>{{TOC row 1-1-1|...}}</nowiki><br>
<nowiki>{{TOC end}}</nowiki></tt>
|{{TOC begin}}
{{TOC row 2-1|Preface|i}}
{{TOC row 1-1-1|I.|Introduction|xii}}
{{TOC row 1-1-1|II.|Chapter 1|1}}
{{TOC end}}
|Used to easily format existing TOCs in the original.
|}
<section end="navigation templates"/>
==Proofreading templates==
Proofreading templates are used during [[Help:Proofread|proofreading]] to manage the process of transclusion to the main namespace.
{| style="border;none; text-align:left;"
|-<!--COLUMN HEADINGS-->
| style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"|'''Template'''
| style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"|'''You type'''
| style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"|'''You get'''
|-<!--1ST ROW-->
|{{tl|Hyphenated word start}} or {{tl|hws}}
|This page ends with the split word "<tt><nowiki>{{Hyphenated word start|abso|absolutely}}</nowiki></tt>
|This page ends with the split word "<span title="absolutely">abso-</span><!-- template doesn't work in this namespace -->
|-<!--2ND ROW-->
|{{tl|Hyphenated word end}} or {{tl|hwe}}
|<tt><nowiki>{{Hyphenated word end|lutely|absolutely}},"</nowiki></tt> split between two pages.
|<span title="absolutely">-lutely</span>," split between two pages.<!-- template doesn't work in this namespace -->
|-<!--3RD ROW-->
|{{tl|nop}}
|
|Used where the end of a page ''is also'' end of a paragraph.
|}
NB: The ''hyphenated word start'' and ''hyphenated word end'' should be paired across two pages in the Page namespace. They will appear correctly as one, unhyphenated word when transcluded to the main namespace.
==Image templates==
{| style="border;none; text-align:left;"
|-<!--COLUMN HEADINGS-->
| style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"|'''Template'''
| style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"|'''You type'''
| style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"|'''You get'''
|-<!--1ST ROW-->
|{{tl|Missing image}}
|<tt><nowiki>{{Missing image}}</nowiki></tt>
|{{Missing image}}
|-<!--2ND ROW-->
|{{tl|Raw image}}
|<tt><nowiki>{{raw image|A song of the English (1909).djvu/167}}</nowiki></tt>
|{{raw image|A song of the English (1909).djvu/167}}
|}
'''XXX''': the above are just image ''maintenance'' templates; should include actual image templates too ...
==Article-specific templates==
Some templates are designed for specific articles in Wikisource. They can be found in [[:Category:Specific article templates]].
==Housekeeping templates==
Some templates are not designed for "inline" use in a work, but are used to keep track of things that need to be fixed or indicate the applicable licensing. Please see the following pages for these templates:
* [[Help:Copyright tags]]
* [[Help:Maintenance tags]]
==User talk pages==
See [[Wikisource:User warning templates]]
===Unblock requests===
<section begin="unblock requests"/>
*{{tl|Unblock}}
*{{tl|Unblock reviewed}}
*{{tl|Unblock granted}}
<section end="unblock requests"/>
==See also==
* [[Help:Font size templates]]
{{Proofreading help navbox}}
[[Category:Help]]
[[Category:Wikisource templates| ]]
bw5ms9c7kb6nzhnlpvlujgnknnru9wt
67540
67535
2019-01-22T04:08:14Z
Vinhtantran
484
/* Định dạng ký tự */
wikitext
text/x-wiki
{{Đề mục diễn tiến
| tựa đề = Bản mẫu
| đề mục =
| trước = [[Trợ giúp:Nội dung]]
| sau =
| viết tắt = [[TG:BM]]
| ghi chú = Trang này giới thiệu với biên tập viên Wikisource mới (lẫn cũ) những bản mẫu thường hay sử dụng khi soạn thảo.
''Xem thêm cây thể loại dành cho bản mẫu: [[:Thể loại:Bản mẫu Wikisource|Bản mẫu Wikisource]]''
}}
{{đang viết}}
__TOC__
Bản mẫu là cách viết tắt đặt trong cặp dấu ngoặc móc để thực hiện các chức năng khác nhau trong Wikisource. Khi bạn hiệu đính và sửa đổi văn kiện trong Wikisource, bạn có thể dùng bản mẫu để hỗ trợ trong việc định dạng, di chuyển, và các nhiệm vụ khác.
==Bản mẫu định dạng==
Bản mẫu định dạng được dùng để thay đổi cách hiển thị văn bản khi đọc.
===Viết in/hoa ký tự===
Thay đổi cách viết hoa bằng các bản mẫu {{tl|IN}}, {{tl|thường}}, {{tl|in nhỏ}} và {{tl|In}}. Tuy không nhất thiết phải sử dụng các bản mẫu viết in/hoa, viết thường, và viết in/hoa chữ đầu, nếu dùng thì chỉ nên dùng với mục đích đơn thuần là định dạng trong tác phẩm (ví dụ một số tựa đề tác phẩm có định dạng đặc biệt), đừng dùng vì mục đích chính tả hoặc ngữ pháp (ví dụ như trong một từ đồng nghĩa).
{| style="border;none; text-align:left; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"
|'''Bản mẫu'''
|'''Tên khác'''
|'''Ví dụ'''
|'''Kết quả'''
|-
|{{tl|IN}}
|{{tl|HOA}}, {{tl|uc}}
|<tt><nowiki>{{IN|chữ in}}</nowiki></tt>
|{{IN|chữ in}}
|-
|{{tl|thường}}
|{{tl|lc}}
|<tt><nowiki>{{thường|CHỮ THƯỜNG}}</nowiki></tt>
|{{thường|CHỮ THƯỜNG}}
|-
|{{tl|in nhỏ}}
|{{tl|sc}}
|<tt><nowiki>{{in nhỏ|In Nhỏ}}</nowiki></tt>
|{{in nhỏ|In Nhỏ}}
|-
|{{tl|In}}
|{{tl|Hoa}}, {{tl|Capitalize}}
|<tt><nowiki>{{In|viết in chữ đầu}}</nowiki></tt>
|{{In|viết in chữ đầu}}
|}
===Cỡ chữ===
{{Trợ giúp:Bản mẫu cỡ chữ}}
===Thụt dòng và Canh lề===
Văn bản được mặc định canh lề trái, nhưng khi muốn canh lề bên trái bằng tay, có thể dùng {{tl|trái}}. Để đặt nổi một khối văn bản về phía trái mà không làm ảnh hưởng đến canh lề văn bản bên trong khối, dùng {{tl|khối trái}} hoặc {{tl|nổi trái}}.
Để canh lề phải cho văn bản, dùng {{tl|phải}}. Để đặt nổi một khối văn bản về phía phải mà không làm ảnh hưởng đến canh lề văn bản bên trong khối, dùng {{tl|khối phải}} hoặc {{tl|nổi phải}}.
Để canh giữa cho văn bản, dùng {{tl|giữa}}. Để đặt nổi một khối văn bản về giữa mà không làm ảnh hưởng đến canh lề văn bản bên trong khối, dùng {{tl|khối giữa}} hoặc {{tl|nổi giữa}}.
{| style="border;none; text-align:trái; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:giữa;"
|'''Bản mẫu'''
|'''Ví dụ'''
|'''Kết quả'''
|-
|{{tl|trái}}
|<tt><nowiki>{{trái|văn bản này<br/>canh lề trái}}</nowiki></tt>
|{{trái|văn bản này<br/>canh lề trái}}
|-
|{{tl|giữa}}, {{tl|g}}
|<tt><nowiki>{{giữa|văn bản này<br/>canh giữa}}</nowiki></tt>
|{{giữa|văn bản này<br/>canh giữa}}
|-
|{{tl|phải}}
|<tt><nowiki>{{phải|văn bản này<br/>canh lề phải}}</nowiki></tt>
|{{phải|văn bản này<br/>canh lề phải}}
|-
|{{tl|khối trái}}, {{tl|nổi trái}}
|<tt><nowiki>{{khối trái|khối văn bản này<br/>canh lề trái}}</nowiki></tt>
|{{khối trái|khối văn bản này<br/>canh lề trái}}
|-
|{{tl|khối giữa}}
|<tt><nowiki>{{khối giữa|khối văn bản này<br/>canh giữa}}</nowiki></tt>
|{{khối giữa|khối văn bản này<br/>canh giữa}}
|-
|{{tl|khối phải}}, {{tl|nổi phải}}
|<tt><nowiki>{{khối phải|khối văn bản này<br/>canh lề phải}}</nowiki></tt>
|{{khối phải|khối văn bản này<br/>canh lề phải}}
|}
Để thụt dòng đầu tiên của đoạn văn bản, có thể dùng bản mẫu {{tl|vào hàng}}. Dùng {{tl|không vào hàng}} để không vào hàng một đoạn văn bản bên trong khối. Chú ý rằng thông thường đối với các tác phẩm được chuyển văn bản tại Wikisource, thụt dòng cho nhiều đoạn văn là điều không cần thiết, và đoạn văn phải được phân tách bằng một dòng trống ở giữa.
Để thụt dòng cho toàn bộ các dòng của một đoạn văn bản ngoại trừ hàng đầu, dùng {{tl|ra hàng}}. Để vào hàng nguyên một khối văn bản về phía trái, dùng bản mẫu {{tl|biên trái}}. Bản mẫu {{tl|hàng}} phối hợp tính năng của {{tl|biên trái}}, {{tl|vào hàng}} và {{tl|ra hàng}}.
Để chèn một khoảng trắng cố định trong văn bản, dùng {{tl|cách}}
{| style="border;none; text-align:trái; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:top;"
|'''Bản mẫu'''
|'''Ví dụ'''
|width=400px|'''Kết quả'''
|-
|{{tl|vào hàng}}, {{tl|không vào hàng}}
|<tt><nowiki>{{vào hàng|2em|</nowiki>
Đoạn văn này có dòng đầu tiên được thụt vào. Đây không phải là cách hiển thị thông thường trừ khi dùng bản mẫu "văn" hoặc một số cách hiển thị văn bản chèn từ sách. Chỉ dùng khi có một lý do rõ ràng cần phải dùng.
Đoạn văn này, và các đoạn văn theo sau, cũng sẽ có dòng đầu thụt vào.
<nowiki>{{không vào hàng|Trừ khi bạn dùng "không vào hàng". Đoạn này có dòng đầu không bị thụt vào.}}</nowiki>
<nowiki>}}</nowiki></tt>
|{{vào hàng|2em|Đoạn văn này có dòng đầu tiên được thụt vào. Đây không phải là cách hiển thị thông thường trừ khi dùng bản mẫu "văn" hoặc một số cách hiển thị văn bản chèn từ sách. Chỉ dùng khi có một lý do rõ ràng cần phải dùng.
Đoạn văn này, và các đoạn văn theo sau, cũng sẽ có dòng đầu thụt vào.
{{không vào hàng|Trừ khi bạn dùng "không vào hàng". Đoạn này có dòng đầu không bị thụt vào.}}
}}
|-
|{{tl|ra hàng}}
|<tt><nowiki>{{ra hàng|Đoạn văn này được thụt lùi ra, thường chỉ dùng khi trong các mục dài trong bảng hoặc danh sách}}</nowiki></tt>
|{{ra hàng|Đoạn văn này được thụt lùi ra, thường chỉ dùng khi trong các mục dài trong bảng hoặc danh sách}}
|-
|{{tl|biên trái}}
|<tt><nowiki>{{biên trái|2em|Khối văn bản này được thụt từ trái 2em, để dời nó so với phần thân chính}}</nowiki></tt>
|{{biên trái|2em|Khối văn bản này được thụt từ trái 2em, để dời nó so với phần thân chính}}
|-
|{{tl|hàng}}
|<tt><nowiki>{{hàng|4em|-2em|Khối văn bản này được định dạng với cả biên trái và ra hàng}}</nowiki></tt>
|{{hàng|4em|-2em|Khối văn bản này được định dạng với cả biên trái và ra hàng}}
|}
===Định dạng ký tự===
Để làm cho ký tự đầu tiên của đoạn văn lớn hơn và "chảy" xuống dòng dưới, dùng {{tl|dropcap}}. Để sao chép dạng ký tự lớn nhưng không chảy xuống dòng dưới, dùng {{tl|chữ đầu lớn}}.
Để sao chép một đường gạch ngang trong một đoạn văn bản (thường để chỉ một đoạn văn bản bị thiếu hoặc bị xóa đi) dùng {{tl|đường kẻ}} vì nhiều dấu gạch m-dash đôi khi bị hiển thị thành đường thẳng gạch đứt.
Để tạo ra dấu ngoặc móc lớn kéo qua nhiều hàng chữ, dùng {{tl|móc}} hoặc {{tl|móc2}}. "móc" bị giới hạn chỉ dùng cùng hoặc bên trong bảng, "móc2" dùng tất cả mọi nơi.
Bản mẫu {{tl|'}}, {{tl|(}} và {{tl|)}} cho phép chèn ký tự đặc biệt {{'}}, {{(}}, và {{)}} khi khó hoặc không thể dùng mã wiki để tạo.
{| style="border;none; text-align:left; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"
|'''Bản mẫu'''
|'''Ví dụ'''
|'''Kết quả'''
|-
|{{tl|dropcap}}, {{tl|dropinitial}}, {{tl|dc}}
|<tt><nowiki>{{dc|D}}rop cap thường hay được dùng trong nhiều loại tác phẩm khác nhau</nowiki></tt>
|{{dc|D}}rop cap thường hay được dùng trong nhiều loại tác phẩm khác nhau
|-
|{{tl|chữ đầu lớn}}
|<tt><nowiki>{{chữ đầu lớn|C}}hữ đầu lớn ít phổ biến hơn, nhưng thường dễ định dạng hơn</nowiki></tt>
|{{chữ đầu lớn|C}}hữ đầu lớn ít phổ biến hơn, nhưng thường dễ định dạng hơn.
|-
|{{tl|đường kẻ}}
|<tt><nowiki>Dùng đường kẻ {{bar|3}} để thay cho nhiều đường gạch m-dash</nowiki></tt>
|Dùng đường kẻ {{bar|3}} để thay cho nhiều đường gạch m-dash
|-
|-
|{{tl|móc}}
|<tt><nowiki>{| {{tham số bảng móc}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Foo||{{móc|r|t}}||<tt><nowiki>{{móc|r|t}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Bar||{{móc|r|s}}||<tt><nowiki>{{móc|r|s}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Spam||{{móc|r|mt}}||<tt><nowiki>{{móc|r|mt}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Eggs||{{móc|r|mb}}||<tt><nowiki>{{móc|r|mb}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Bread||{{móc|r|s}}||<tt><nowiki>{{móc|r|s}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Text||{{móc|r|m}}||<tt><nowiki>{{móc|r|m}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Text||{{móc|r|b}}||<tt><nowiki>{{móc|r|b}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Stuff||{{móc|r|ht}}||<tt><nowiki>{{móc|r|ht}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|-</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|Things||{{móc|r|hb}}||<tt><nowiki>{{móc|r|hb}}</nowiki></tt><br/>
<tt><nowiki>|}</nowiki></tt>
|
{| {{tham số bảng móc}}
|Foo||{{móc|r|t}}||<tt><nowiki>{{móc|r|t}}</nowiki></tt>
|-
|Bar||{{móc|r|s}}||<tt><nowiki>{{móc|r|s}}</nowiki></tt>
|-
|Spam||{{móc|r|mt}}||<tt><nowiki>{{móc|r|mt}}</nowiki></tt>
|-
|Eggs||{{móc|r|mb}}||<tt><nowiki>{{móc|r|mb}}</nowiki></tt>
|-
|Bread||{{móc|r|s}}||<tt><nowiki>{{móc|r|s}}</nowiki></tt>
|-
|Text||{{móc|r|m}}||<tt><nowiki>{{móc|r|m}}</nowiki></tt>
|-
|Text||{{móc|r|b}}||<tt><nowiki>{{móc|r|b}}</nowiki></tt>
|-
|Stuff||{{móc|r|ht}}||<tt><nowiki>{{móc|r|ht}}</nowiki></tt>
|-
|Things||{{móc|r|hb}}||<tt><nowiki>{{móc|r|hb}}</nowiki></tt>
|}
|-
|{{tl|ngoặc2}}
|<tt><nowiki>{{móc2|}} {{móc2|2}} {{móc2|4|r}} {{móc2|1|l}} {{móc2|3|l}}</nowiki></tt>
|{{móc2|}} {{móc2|2}} {{móc2|4|r}} {{móc2|1|l}} {{móc2|3|l}}
|-
|{{tl|'}}, {{tl|(}} và {{tl|)}}
|<tt><nowiki>dấu nháy đơn: {{'}}; đóng mở ngoặc móc: {{(}} {{)}}</nowiki></tt>
|dấu nháy đơn: {{'}}; đóng mở ngoặc móc: {{(}} {{)}}.
|}
===Roman Numerals===
In the interest of data quality {{tl|Roman-to-arabic}} is available to facilitate entering metadata like publication date from the original page; it eases proofreading, allowing comparison of page and text directly—also allows conversion algorithm to be audited by automated testing.
{|
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"
|'''Template''' || '''Result'''
|-
| {{tlx|Roman-to-arabic|CDLXXVI}} || {{Roman-to-arabic|CDLXXVI}}
|-
| {{tlx|Roman-to-arabic|MDCCLXXVI}} || {{Roman-to-arabic|MDCCLXXVI}}
|-
| {{tlx|Roman-to-arabic|MMXVIII}} || {{Roman-to-arabic|MMXVIII}}
|}
===Separations===
Use {{tl|rule}} in preference of "----" for the creation of horizontal lines spanning the page. In addition, rule can create horizontal separators of any length. For more fancy lines, {{tl|custom rule}} is available.
For breaking up discontinuous runs of pages, for example when separating blocks of transluded front and end matter (ex. Title Page, Dedication, Contents) to one page, use {{tl|page break}}
{| style="border;none; text-align:left; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"
|'''Template'''
|'''Example'''
|'''Result'''
|-
|{{tl|rule}}
|<tt><nowiki>{{rule}}{{rule}}</nowiki></tt>
<tt><nowiki>{{rule|height=4px}}{{rule}}</nowiki></tt>
<tt><nowiki>{{rule|5em}}</nowiki></tt>
|{{rule}}{{rule}}
{{rule|height=4px}}{{rule}}
{{rule|5em}}
|-
|{{tl|custom rule}}
|<tt><nowiki>{{Custom rule|sp|100|d|6|sp|10|d|10|sp|10|d|6|sp|100}}</nowiki></tt>
<tt><nowiki>{{custom rule|c|6|sp|40|do|7|fy1|40|do|7|sp|40|c|6}}</nowiki></tt>
|{{Custom rule|sp|100|d|6|sp|10|d|10|sp|10|d|6|sp|100}}
{{custom rule|c|6|sp|40|do|7|fy1|40|do|7|sp|40|c|6}}
|-
|{{tl|separator}}
|<tt><nowiki>{{separator}}</nowiki></tt>
|{{separator}}
|-
|{{tl|***}}
|<tt><nowiki>{{***}}</nowiki></tt>
<tt><nowiki>{{***|5|3em|char=@}}</nowiki></tt>
|{{***}}
{{***|5|3em|char=@}}
|-
|{{tl|page break}}
|<tt><nowiki>{{page break}}</nowiki></tt>
|{{page break}}
|}
===General formatting===
Text can be colored using the {{tl|greyed}} and {{tl|red}} templates. Red text was often used as a highlight in older works, especially on the title page. Greyed text can be used to indicate (important) text that has been written or typed onto the original document. {{tl|RunningHeader}} or {{tl|rh}} creates a left justified, a centered, and a right justified block of text all on the same line, and is most often used in the Page [[H:NS|namespace]], in the [[H:HEADER|header field]] to replicate page headers. {{tl|gap}} is used wherever a gap of greater than one space is required.
{| style="border;none; text-align:left; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"
|'''Template'''
|'''Example'''
|'''Result'''
|-
|{{tl|greyed}}, {{tl|red}}, {{tl|green}}
|<tt><nowiki>{{greyed|grey text}}, {{red|red text}}, {{green|green text}}</nowiki></tt>
|{{greyed|grey text}}, {{red|red text}}, {{green|green text}}
|-
|{{tl|RunningHeader}} or {{tl|rh}}
|<tt><nowiki>{{RunningHeader|Left text|Center text|Right text}}</nowiki></tt>
|{{RunningHeader|Left text|Center text|Right text}}
|-
|{{tl|gap}}
|text with a{{tlx|gap|5em}}gap!
|text with a{{gap|5em}}gap!
|}
===Column formatting===
<section begin="column formatting"/>
<!--this section is transcluded to the template docs' See Also sections - make sure it makes sense there as well-->
* {{tl|multicol}}, {{tl|multicol-break}}, {{tl|multicol-section}}, {{tl|multicol-end}}, this template uses a table to create multiple columns of text. You need to place the breaks explicitly, but they will never move.
* {{tl|div col}}, {{tl|div col end}}, which uses CSS3 properties to create columns dynamically. The reader's browser will choose where best to put the breaks, so the layout cannot be guaranteed not to change. This one is good for lists, as you don't need to worry about placing {{tl|multicol-break}}s.
<section end="column formatting"/>
==Navigation Templates==
<section begin="navigation templates"/><!--Used for transclusion to TOC template doc pages-->
Navigation templates are used to help a reader navigate through or between texts.
{| style="border;none; text-align:left; width:100%"
|- style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"
|'''Template'''
|style="width:15em"|'''You type'''
|'''You get'''
|style="width:20em"|'''Notes'''
|-<!--1ST ROW-->
|{{tl|TOC}}
|<tt><nowiki>{{TOC}}</nowiki></tt>
|{{TOC}}
| Used to provide a compact TOC to an alphabetical listing.
|-<!--2ND ROW-->
|{{tl|AuxTOC}}
|<tt><nowiki>{{AuxTOC|</nowiki><br>
<nowiki>* [[/Chapter 1/]]}}</nowiki></tt>
|{{AuxTOC|
* [[/Chapter 1/]]}}
|Used when the work does ''not'' include an original Table of Contents.
|-
| {{tl|TOC begin}},<Br> {{tl|TOC end}} and <br>all <nowiki>{{TOC row....}}</nowiki>'s
|
<tt><nowiki>{{TOC begin}}</nowiki><br>
<nowiki>{{TOC row 1-1-1|...}}</nowiki><br>
<nowiki>{{TOC end}}</nowiki></tt>
|{{TOC begin}}
{{TOC row 2-1|Preface|i}}
{{TOC row 1-1-1|I.|Introduction|xii}}
{{TOC row 1-1-1|II.|Chapter 1|1}}
{{TOC end}}
|Used to easily format existing TOCs in the original.
|}
<section end="navigation templates"/>
==Proofreading templates==
Proofreading templates are used during [[Help:Proofread|proofreading]] to manage the process of transclusion to the main namespace.
{| style="border;none; text-align:left;"
|-<!--COLUMN HEADINGS-->
| style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"|'''Template'''
| style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"|'''You type'''
| style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"|'''You get'''
|-<!--1ST ROW-->
|{{tl|Hyphenated word start}} or {{tl|hws}}
|This page ends with the split word "<tt><nowiki>{{Hyphenated word start|abso|absolutely}}</nowiki></tt>
|This page ends with the split word "<span title="absolutely">abso-</span><!-- template doesn't work in this namespace -->
|-<!--2ND ROW-->
|{{tl|Hyphenated word end}} or {{tl|hwe}}
|<tt><nowiki>{{Hyphenated word end|lutely|absolutely}},"</nowiki></tt> split between two pages.
|<span title="absolutely">-lutely</span>," split between two pages.<!-- template doesn't work in this namespace -->
|-<!--3RD ROW-->
|{{tl|nop}}
|
|Used where the end of a page ''is also'' end of a paragraph.
|}
NB: The ''hyphenated word start'' and ''hyphenated word end'' should be paired across two pages in the Page namespace. They will appear correctly as one, unhyphenated word when transcluded to the main namespace.
==Image templates==
{| style="border;none; text-align:left;"
|-<!--COLUMN HEADINGS-->
| style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"|'''Template'''
| style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"|'''You type'''
| style="background:#E6F2FF; padding:0.3em; text-align:center;"|'''You get'''
|-<!--1ST ROW-->
|{{tl|Missing image}}
|<tt><nowiki>{{Missing image}}</nowiki></tt>
|{{Missing image}}
|-<!--2ND ROW-->
|{{tl|Raw image}}
|<tt><nowiki>{{raw image|A song of the English (1909).djvu/167}}</nowiki></tt>
|{{raw image|A song of the English (1909).djvu/167}}
|}
'''XXX''': the above are just image ''maintenance'' templates; should include actual image templates too ...
==Article-specific templates==
Some templates are designed for specific articles in Wikisource. They can be found in [[:Category:Specific article templates]].
==Housekeeping templates==
Some templates are not designed for "inline" use in a work, but are used to keep track of things that need to be fixed or indicate the applicable licensing. Please see the following pages for these templates:
* [[Help:Copyright tags]]
* [[Help:Maintenance tags]]
==User talk pages==
See [[Wikisource:User warning templates]]
===Unblock requests===
<section begin="unblock requests"/>
*{{tl|Unblock}}
*{{tl|Unblock reviewed}}
*{{tl|Unblock granted}}
<section end="unblock requests"/>
==See also==
* [[Help:Font size templates]]
{{Proofreading help navbox}}
[[Category:Help]]
[[Category:Wikisource templates| ]]
hna6m8t5qbbdhtr2zt2hz4o45e5msu5
Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/25
104
24039
67491
2019-01-21T16:14:19Z
Vinhtantran
484
/* Đã hiệu đính */
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" /></noinclude>{{giữa|
{{khung|{{larger|CHƯƠNG THỨ NĂM}}}}
{{x-larger|{{uc|những công cuộc trừ bớt cái nạn thủy-lạo cùng là hạn-hán}}}}}}
Ngay từ đời mà người Việt-nam ra khỏi cái thời-kỳ ăn lông ở lỗ, học được cách cầy cấy theo như người Trung-quốc thì đã hay gặp phải những cái nạn hạn-hán cùng là thủy-lạo.
Các đời vua ngày xưa đều khổ công giữ cho quốc-dân bớt được sự khổ-ải về những cái nạn này. Mỗi khi trong nước sẩy ra cái nạn hạn-hán hay là thủy-lạo thì nhà vua lấy thóc lấy gạo trong kho mà trẩn-cấp cho người nghèo khó, hoặc là miễn thuế cho dân chúng. Nhưng cái phương-pháp này có một điều tệ-lậu là giảm bớt công-ngân trong khi quốc-gia cần phải chi-tiêu nhiều về cuộc tiễu-trừ trộm cướp hoặc là để làm những công-cuộc lớn lao trong nước. Vua ta đời xưa đã có cái công đức tác-thành ra những đê-điều cùng là dựng nên cái công-cuộc giẫn-thủy-nhập-điền. Nhất là đức Minh-mệnh đã thực-hành cái công-cuộc rất lớn lao này để vừa tháo nước ở những nơi đồng thấp trong khi ủng-tắc, cùng là giẫn nước vào ruộng trong khi hạn hán. Về những công-cuộc giẫn-thủy-nhập-điền này thì có làm những con đường cống ngầm ở dưới chân đê; cống thì có cửa để mở và đóng được. Trong những khi nước sông cạn thì mở cống cho nước ở đồng-bằng chẩy vào lòng sông. Trong khi nước sông lên to thì đóng cửa cống lại. Những khi nước sông lên tới cái trình-độ trung-bình thì mở cửa cống để giẫn nước sông vào nơi đồng-bằng.
Những công cuộc để trừ bớt cái nạn hạn-hán và thủy-lạo đó, vì không được hoàn-toàn cho nên thường khi không kết-quả. Vả lại khi cần phải giẫn nước vào ruộng thì nước sông hoặc là thấp hơn miệng cống, làm cho sự giẫn nước không công-hiệu, hoặc là nước sông cao-quá, khiến cho cuộc giẫn nước rất là nguy-hiểm.
Từ khi nước Nam thuộc quyền Bảo-hộ, nước Đại-pháp đem sang những chính-sách cai-trị rất công-bằng, lại tuyển sang đây các nhà<noinclude></noinclude>
bbd56mcgg2b6m3v3p4wywtjn66hveeu
Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/26
104
24040
67492
2019-01-21T16:30:58Z
Vinhtantran
484
/* Đã hiệu đính */
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|30||}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>kỹ-sư, các nhà bác-vật, có cái trách-nhiệm về đường khai-hóa. Lại đem sang các thứ cơ-khí rất là thần-diệu.
Cái công-cuộc trước tiên là việc họa bản-đồ bản-xứ rõ thực tinh-tế, trong bản-đồ thì một phân tây tức là 250 thước đất. Trong bản-đồ thì liệt-kê hết mọi điều mà người ta cần phải biết về bản-xứ, in bằng nhiều thứ mầu để người ta dễ nhận. Bề cao thì ghi-chép rất tinh-tường; xem trong bản-đồ thì biết đủ mọi việc, nào là dòng nước này phát nguyên từ đâu, dòng nước kia chẩy vào miền nào; nào là đất cao hơn mặt nước thuộc về những vụ nước lớn nhất là thế nào? Lại có một cuộc biên chép về nước lên xuống ở các sông, cùng là những vụ nước lên, và cái độ-lượng nước chẩy trong lòng sông, nữa v.v.
[[File:5-kep.png|nhỏ|giữa|450px|{{g|''Công-cuộc giẫn thủy nhập điền ở Kép.''}}]]
Nhờ về các việc đó mà ngày nay thực-hành được những công-cuộc giẫn thủy nhập điền một cách rất dễ dàng.
1 — ''Về miền gần bể.'' — Tại miền duyên-hải thì Chính-phủ Đại-pháp cũng làm những công-cuộc như các đời vua cùng là quan ta ngày xưa, nhưng cái phương-pháp của nhà nước Bảo-hộ thực-hành ngày nay thì đích sác hơn, lại dùng toàn những cơ-khí rất mãnh-liệt. Trước hết thì đem chia địa-hạt bản-xứ làm nhiều khu, mà các khu thì không can-thiệp gì với nhau; khu nào cũng có đê cao vòng kín. Như<noinclude></noinclude>
ntrhlv5kn7cumfztqsvwm9n11lcauck
Bản mẫu:Chữ nối đầu
10
24041
67493
2019-01-21T16:37:29Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “<includeonly><!-- -->{{#ifeq:{{{1|{{{s|}}}}}}|<!-- If both {{{1}}} and {{{s}}} are unset or empty: -->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b…”
wikitext
text/x-wiki
<includeonly><!--
-->{{#ifeq:{{{1|{{{s|}}}}}}|<!--
If both {{{1}}} and {{{s}}} are unset or empty:
-->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}<!--
Or:
-->{{#ifeq:{{{2|{{{e|}}}}}}|<!--
If both {{{2}}} and {{{e}}} are unset or empty:
-->||[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}</includeonly><!--
-->{{#ifeq:{{{namespace|{{NAMESPACE}}}}}|Page<!--
Only in Page: space:
-->|<span title="{{{title|{{{2|{{{s|}}}{{{e|}}}}}}}}}"><!--
-->{{{1|{{{s|}}}}}}<!--
-->{{#ifeq:{{{hyph|+}}}|{{{hyph|-}}}|<!--
Only if {{{hyph}}} set:
-->{{{hyph}}}|<!--
otherwise default to adding a normal hyphen
-->-<!--
-->}}<!--
--></span>|<!--
Only if not in Page: space: (substitute nothing)
-->}}<noinclude>
{{documentation}}
</noinclude>
pcdvbjhaihgz5xc1vjpmnrc2pb7zk75
67500
67493
2019-01-21T16:43:17Z
Vinhtantran
484
wikitext
text/x-wiki
<includeonly><!--
-->{{#ifeq:{{{1|{{{đ|}}}}}}|<!--
If both {{{1}}} and {{{đ}}} are unset or empty:
-->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}<!--
Or:
-->{{#ifeq:{{{2|{{{c|}}}}}}|<!--
If both {{{2}}} and {{{c}}} are unset or empty:
-->||[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}</includeonly><!--
-->{{#ifeq:{{{namespace|{{NAMESPACE}}}}}|Page<!--
Only in Page: space:
-->|<span title="{{{title|{{{2|{{{đ|}}}{{{c|}}}}}}}}}"><!--
-->{{{1|{{{đ|}}}}}}<!--
-->{{#ifeq:{{{hyph|+}}}|{{{hyph|-}}}|<!--
Only if {{{hyph}}} set:
-->{{{hyph}}}|<!--
otherwise default to adding a normal hyphen
-->-<!--
-->}}<!--
--></span>|<!--
Only if not in Page: space: (substitute nothing)
-->}}<noinclude>
{{documentation}}
</noinclude>
eag7t20fd3a729ifwsh3p6etn8witda
67502
67500
2019-01-21T16:45:53Z
Vinhtantran
484
wikitext
text/x-wiki
<includeonly><!--
-->{{#ifeq:{{{1|{{{đ|}}}}}}|<!--
If both {{{1}}} and {{{đ}}} are unset or empty:
-->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}<!--
Or:
-->{{#ifeq:{{{2|{{{c|}}}}}}|<!--
If both {{{2}}} and {{{c}}} are unset or empty:
-->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}</includeonly><!--
-->{{#ifeq:{{{namespace|{{NAMESPACE}}}}}|Page<!--
Only in Page: space:
-->|<span title="{{{title|{{{2|{{{đ|}}}{{{c|}}}}}}}}}"><!--
-->{{{1|{{{đ|}}}}}}<!--
-->{{#ifeq:{{{hyph|+}}}|{{{hyph|-}}}|<!--
Only if {{{hyph}}} set:
-->{{{hyph}}}|<!--
otherwise default to adding a normal hyphen
-->-<!--
-->}}<!--
--></span>|<!--
Only if not in Page: space: (substitute nothing)
-->}}<noinclude>
{{documentation}}
</noinclude>
mlzszkfah64bn9k35d6m0m1mtyovxs7
67503
67502
2019-01-21T16:46:47Z
Vinhtantran
484
wikitext
text/x-wiki
<includeonly><!--
-->{{#ifeq:{{{1|{{{đ|}}}}}}|<!--
If both {{{1}}} and {{{đ}}} are unset or empty:
-->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}<!--
Or:
-->{{#ifeq:{{{2|{{{c|}}}}}}|<!--
If both {{{2}}} and {{{c}}} are unset or empty:
-->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}</includeonly><!--
-->{{#ifeq:{{{namespace|{{NAMESPACE}}}}}|Trang<!--
Only in Page: space:
-->|<span title="{{{title|{{{2|{{{đ|}}}{{{c|}}}}}}}}}"><!--
-->{{{1|{{{đ|}}}}}}<!--
-->{{#ifeq:{{{hyph|+}}}|{{{hyph|-}}}|<!--
Only if {{{hyph}}} set:
-->{{{hyph}}}|<!--
otherwise default to adding a normal hyphen
-->-<!--
-->}}<!--
--></span>|<!--
Only if not in Page: space: (substitute nothing)
-->}}<noinclude>
{{documentation}}
</noinclude>
gvqog0bnlf8jime7jxvtrir8d2rfx94
Bản mẫu:Chữ nối cuối
10
24042
67494
2019-01-21T16:38:34Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “<includeonly><!-- -->{{#ifeq:{{{1|{{{e|}}}}}}|<!-- If both {{{1}}} and {{{e}}} are unset or empty: -->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b…”
wikitext
text/x-wiki
<includeonly><!--
-->{{#ifeq:{{{1|{{{e|}}}}}}|<!--
If both {{{1}}} and {{{e}}} are unset or empty:
-->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}<!--
Or:
-->{{#ifeq:{{{2|{{{s|}}}}}}|<!--
If both {{{2}}} and {{{s}}} are unset or empty:
-->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}</includeonly><!--
-->{{#ifeq:{{{namespace|{{NAMESPACE}}}}}|Page<!--
Only in Page: space:
-->|<span title="{{{title|{{{2|{{{s|}}}{{{e|}}}}}}}}}"><!--
-->{{{1|{{{e|}}}}}}<!--
--></span>|<!--
Only if not in Page: space:
-->{{{2|{{{s|}}}{{{e|}}}}}}<!--
-->}}<noinclude>
{{documentation|bản mẫu:chữ nối đầu/doc}}
</noinclude>
9ugq6en4w6awiat81kv15mku1h2odw0
67505
67494
2019-01-21T16:47:25Z
Vinhtantran
484
wikitext
text/x-wiki
<includeonly><!--
-->{{#ifeq:{{{1|{{{e|}}}}}}|<!--
If both {{{1}}} and {{{e}}} are unset or empty:
-->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}<!--
Or:
-->{{#ifeq:{{{2|{{{s|}}}}}}|<!--
If both {{{2}}} and {{{s}}} are unset or empty:
-->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}</includeonly><!--
-->{{#ifeq:{{{namespace|{{NAMESPACE}}}}}|Trang<!--
Only in Page: space:
-->|<span title="{{{title|{{{2|{{{s|}}}{{{e|}}}}}}}}}"><!--
-->{{{1|{{{e|}}}}}}<!--
--></span>|<!--
Only if not in Page: space:
-->{{{2|{{{s|}}}{{{e|}}}}}}<!--
-->}}<noinclude>
{{documentation|bản mẫu:chữ nối đầu/doc}}
</noinclude>
l0iofr8bndoip2cx5zco9pfjz1wuwyn
Bản mẫu:Cnd
10
24043
67495
2019-01-21T16:40:12Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Chữ nối đầu]]
wikitext
text/x-wiki
#đổi [[Bản mẫu:Chữ nối đầu]]
0tbmegqh9bepppmzpu356tenucmk185
Bản mẫu:Cnc
10
24044
67496
2019-01-21T16:40:27Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Chữ nối cuối]]
wikitext
text/x-wiki
#đổi [[Bản mẫu:Chữ nối cuối]]
1s6g034myfyjiei554sw7fpv4f35cd7
Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/27
104
24045
67497
2019-01-21T16:41:00Z
Vinhtantran
484
/* Đã hiệu đính */
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|||31}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>vậy thì nước mặn không tràn vào ruộng được; còn nước ngọt thì cần đến chừng nào là cứ việc tháo vào, hễ nhiều nước quá thì lại tháo bớt đi.
2 — ''Miền bắc hạ-du. – Việc giẫn thủy nhập điền.'' — Các nhà kỹ-sư Đại-pháp đã khảo nghiệm về hết các hạt có cái địa-thế để giẫn nước vào ruộng mà không phải cần đến máy bơm. Vậy cứ việc lấy nước ngay chỗ dòng sông phát-nguyên ở trong núi, lựa chỗ nào cao, mà giẫn nước vào con đường cống lớn đi lượn theo cái phần cao-nguyên ở bản-hạt. Nước từ con đường cống lớn chẩy qua những cái máng xuống khắp các làng; mỗi làng lại có máng riêng để đưa nước ra ruộng. Cuộc giẫn thủy nhập điền theo cách này thì khởi công lần trước tiên ở một phần hạt Kep, đến năm 1907 thì hoàn công.
[[File:5-vu di.png|thumb|450px|giữa|{{g|Cống ngầm giẫn nước ở Vũ-di (Thân cống đã xây xong, đang lấp đất cho tới đáy sông cũ đã bớt tạm đi trước).}}]]
Ở hạt này thì lấy nước ở Sông-Thương, do một con đê chắn nước làm ở Cân-son. Có một con đường cống dài 26 ki-lô-mét, thông với các máng, những máng này dài tới 38 ki-lô-mét, đưa nước vào những 350 ki-lô-mét các máng nhỏ để giẫn nước đi khắp 7.500 hectares ruộng.
Những ruộng này khi xưa hay mất vụ mùa, ngày nay thì năm nào cũng được một vụ rất tốt. Dân {{cnd|bản-|bản-hạt}}<noinclude></noinclude>
cw7um1kpbmfoy5s2ib206uvc88z64ng
67499
67497
2019-01-21T16:42:11Z
Vinhtantran
484
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|||31}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>vậy thì nước mặn không tràn vào ruộng được; còn nước ngọt thì cần đến chừng nào là cứ việc tháo vào, hễ nhiều nước quá thì lại tháo bớt đi.
2 — ''Miền bắc hạ-du. – Việc giẫn thủy nhập điền.'' — Các nhà kỹ-sư Đại-pháp đã khảo nghiệm về hết các hạt có cái địa-thế để giẫn nước vào ruộng mà không phải cần đến máy bơm. Vậy cứ việc lấy nước ngay chỗ dòng sông phát-nguyên ở trong núi, lựa chỗ nào cao, mà giẫn nước vào con đường cống lớn đi lượn theo cái phần cao-nguyên ở bản-hạt. Nước từ con đường cống lớn chẩy qua những cái máng xuống khắp các làng; mỗi làng lại có máng riêng để đưa nước ra ruộng. Cuộc giẫn thủy nhập điền theo cách này thì khởi công lần trước tiên ở một phần hạt Kep, đến năm 1907 thì hoàn công.
[[File:5-vu di.png|thumb|450px|giữa|{{g|Cống ngầm giẫn nước ở Vũ-di (Thân cống đã xây xong, đang lấp đất cho tới đáy sông cũ đã bớt tạm đi trước).}}]]
Ở hạt này thì lấy nước ở Sông-Thương, do một con đê chắn nước làm ở Cân-son. Có một con đường cống dài 26 ki-lô-mét, thông với các máng, những máng này dài tới 38 ki-lô-mét, đưa nước vào những 350 ki-lô-mét các máng nhỏ để giẫn nước đi khắp 7.500 hectares ruộng.
Những ruộng này khi xưa hay mất vụ mùa, ngày nay thì năm nào cũng được một vụ rất tốt. Dân {{cnd|bản|bản-hạt}}<noinclude></noinclude>
1wvybx8usfbacdezgflmmd0o02i91k9
67501
67499
2019-01-21T16:44:11Z
Vinhtantran
484
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|||31}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>vậy thì nước mặn không tràn vào ruộng được; còn nước ngọt thì cần đến chừng nào là cứ việc tháo vào, hễ nhiều nước quá thì lại tháo bớt đi.
2 — ''Miền bắc hạ-du. – Việc giẫn thủy nhập điền.'' — Các nhà kỹ-sư Đại-pháp đã khảo nghiệm về hết các hạt có cái địa-thế để giẫn nước vào ruộng mà không phải cần đến máy bơm. Vậy cứ việc lấy nước ngay chỗ dòng sông phát-nguyên ở trong núi, lựa chỗ nào cao, mà giẫn nước vào con đường cống lớn đi lượn theo cái phần cao-nguyên ở bản-hạt. Nước từ con đường cống lớn chẩy qua những cái máng xuống khắp các làng; mỗi làng lại có máng riêng để đưa nước ra ruộng. Cuộc giẫn thủy nhập điền theo cách này thì khởi công lần trước tiên ở một phần hạt Kep, đến năm 1907 thì hoàn công.
[[File:5-vu di.png|thumb|450px|giữa|{{g|Cống ngầm giẫn nước ở Vũ-di (Thân cống đã xây xong, đang lấp đất cho tới đáy sông cũ đã bớt tạm đi trước).}}]]
Ở hạt này thì lấy nước ở Sông-Thương, do một con đê chắn nước làm ở Cân-son. Có một con đường cống dài 26 ki-lô-mét, thông với các máng, những máng này dài tới 38 ki-lô-mét, đưa nước vào những 350 ki-lô-mét các máng nhỏ để giẫn nước đi khắp 7.500 hectares ruộng.
Những ruộng này khi xưa hay mất vụ mùa, ngày nay thì năm nào cũng được một vụ rất tốt. Dân <!--
-->{{#ifeq:bản|<!--
If both {{{1}}} and {{{đ}}} are unset or empty:
-->|[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}<!--
Or:
-->{{#ifeq:bản-hạt|<!--
If both {{{2}}} and {{{c}}} are unset or empty:
-->||[[Category:Gọi bản mẫu sai]]{{red| <b>Gọi bản mẫu sai→</b>}} <!--
-->}}<!--
-->{{#ifeq:{{NAMESPACE}}|Page<!--
Only in Page: space:
-->|<span title="bản-hạt"><!--
-->bản<!--
-->{{#ifeq:+|-|<!--
Only if {{{hyph}}} set:
-->{{{hyph}}}|<!--
otherwise default to adding a normal hyphen
-->-<!--
-->}}<!--
--></span>|<!--
Only if not in Page: space: (substitute nothing)
-->}}<noinclude></noinclude>
s33l1zwpt5xf8vssv9tg0rjw31583oi
67504
67501
2019-01-21T16:47:00Z
Vinhtantran
484
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|||31}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>vậy thì nước mặn không tràn vào ruộng được; còn nước ngọt thì cần đến chừng nào là cứ việc tháo vào, hễ nhiều nước quá thì lại tháo bớt đi.
2 — ''Miền bắc hạ-du. – Việc giẫn thủy nhập điền.'' — Các nhà kỹ-sư Đại-pháp đã khảo nghiệm về hết các hạt có cái địa-thế để giẫn nước vào ruộng mà không phải cần đến máy bơm. Vậy cứ việc lấy nước ngay chỗ dòng sông phát-nguyên ở trong núi, lựa chỗ nào cao, mà giẫn nước vào con đường cống lớn đi lượn theo cái phần cao-nguyên ở bản-hạt. Nước từ con đường cống lớn chẩy qua những cái máng xuống khắp các làng; mỗi làng lại có máng riêng để đưa nước ra ruộng. Cuộc giẫn thủy nhập điền theo cách này thì khởi công lần trước tiên ở một phần hạt Kep, đến năm 1907 thì hoàn công.
[[File:5-vu di.png|thumb|450px|giữa|{{g|Cống ngầm giẫn nước ở Vũ-di (Thân cống đã xây xong, đang lấp đất cho tới đáy sông cũ đã bớt tạm đi trước).}}]]
Ở hạt này thì lấy nước ở Sông-Thương, do một con đê chắn nước làm ở Cân-son. Có một con đường cống dài 26 ki-lô-mét, thông với các máng, những máng này dài tới 38 ki-lô-mét, đưa nước vào những 350 ki-lô-mét các máng nhỏ để giẫn nước đi khắp 7.500 hectares ruộng.
Những ruộng này khi xưa hay mất vụ mùa, ngày nay thì năm nào cũng được một vụ rất tốt. Dân {{cnd|bản|bản-hạt}}<noinclude></noinclude>
1wvybx8usfbacdezgflmmd0o02i91k9
Bản mẫu:Red
10
24046
67498
2019-01-21T16:41:26Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Đỏ]]
wikitext
text/x-wiki
#đổi [[Bản mẫu:Đỏ]]
227xen8ttdifzalxs2vp1pshzdppjex
Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/28
104
24047
67506
2019-01-21T16:51:09Z
Vinhtantran
484
/* Đã hiệu đính */
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|32||}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>{{cnc|hạt|bản-hạt}} nhờ về cái công-cuộc giẫn thủy nhập-điền mà nay đều được phong túc.
Mới đây hạt Vĩnh-yên cũng có cuộc giẫn-thủy nhập-điền rất lớn lao. Xưa kia hạt này nghèo khổ lắm. Nay thì lấy nước ở sông Phó-Đay. Có hai con đường cống lớn, một con dài 50 và một con dài 18 ki-lô-mét, và có 12 cái máng bề dài tổng-cộng là 82 ki-lô-mét để giẫn nước đi khắp trong bản-hạt. Các làng hiện đã làm kể có 800 ki-lô-mét những cống nhỏ để đưa nước vào các ruộng. Cái công-cuộc giẫn-thủy-nhập-điền ở hạt Vĩnh-yên này làm cho 17.000 hectares đất từ nay có đủ nước để cấy cầy. Xưa kia thì toàn là những đất chẳng mấy năm là không mất mùa. Vậy từ nay, năm nào cũng chắc được mùa.
[[File:5-chan thuy.png|thumb|giữa|500px|{{g|Chỗ chân thủy để giữ nước ở máng.}}]]
Lại những 13.000 hectares ruộng, xưa kia đều không cấy được vụ chiêm thì từ nay thành ra những ruộng chiêm rất tốt.
Nhờ về cái công-cuộc giẫn-thủy nhập-điền mà tỉnh Vĩnh-yên sẽ trở nên một hạt rất phong-túc, thế mà xưa nay thì kể là một hạt rất nghèo vậy. Mới 25 năm về trước, một mẫu ruộng đáng giá 1$50 thì nay đã thành giá những 100 đồng bạc.
Lại đã làm những công-cuộc để làm tiêu thoát nước ủng tắc ở những khu đất xưa kia là cõi đồng lầy, không cầy cấy gì được. Hiện<noinclude></noinclude>
5rixtean8ruysydor1txvgnh37sok46
Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/29
104
24048
67507
2019-01-21T16:54:15Z
Vinhtantran
484
/* Đã hiệu đính */
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|||33}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>đã làm cho 6.000 hectares tiêu thoát hết nước ủng tắc, cầy cấy được rất tốt rồi.
3 — Về đầu năm 1923 thì nhà-nước khởi một công-cuộc lớn lao hơn hai công-cuộc đã kể ra trên này. Cuộc này đến khi hoàn-thành thì làm cho khắp hạt Bắc-giang thêm ra nhiều ruộng rất có giá-trị, nhất là hạt Yên-thế. Nguyên là về miền dưới hạt Thái-nguyên thì làm con đê chắn ngang Sông-cầu và có một con sông đào lớn bề dài là 55 ki-lô-mét để giẫn nước vào hạt Yên-thế. Từ con sông đào này thì có những con sông nhỏ, tức là những cái máng nước bề dài là 3, 6, 31, 21, 7 và 3 ki-lô-mét.
[[File:5-lien son.png|thumb|giữa|500px|{{g|Cống lấy nước ở Liên-sơn (Trông mặt hậu).}}]]
Những cái máng nước này thì giẫn nước vào 34.000 hectares đất. Muốn biết rõ cái công-cuộc giẫn-thủy nhập-điền là hệ trọng thế nào thì cứ tính đổ đồng là 4 người có thể sinh-hoạt trong cái chu-vi một hectare. Như vậy thì sau này kể gần tới cái số 14 vạn người có thể sinh-hoạt một cách rất phong-túc trong một hạt, sau này năm nào cũng chắc được mùa, thế mà xưa nay thì không cầy cấy gì được.
III — ''Cuộc giẫn-thủy nhập-điền bằng cách bơm nước.'' — Bắc-kỳ này là một xứ rất kỳ-lạ. Thường có làng cùng một năm mà vừa bị<noinclude></noinclude>
eymsdz9adpnpwy7nj99ny4j4rb5wy5u
Trang:Đại Nam quấc âm tự vị 1.pdf/39
104
24049
67508
2019-01-21T16:57:31Z
LMQ2401
3550
/* Chưa hiệu đính */ [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{DNQATV/trang| {{DNQATV/mục|||||}} {{DNQATV/nghĩa||Tày ―|Bằng bảy, xấp bảy. ''Nó học giỏi tày bảy mầy''.}} {{DNQATV/nghĩa||Ba hồn…”
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="1" user="LMQ2401" /><div class="classic">
{{Chạy đầu trang|trái=26|giữa=BẢY}}
----
{{Div col|rules=yes}}</noinclude>{{DNQATV/trang|
{{DNQATV/mục|||||}}
{{DNQATV/nghĩa||Tày ―|Bằng bảy, xấp bảy. ''Nó học giỏi tày bảy mầy''.}}
{{DNQATV/nghĩa||Ba hồn ― vía|(Coi chữ ba trước).}}
{{DNQATV/nghĩa||― lảy|Lanh lợi, nhặm lẹ. ''Ăn nói bảy lảy''.}}
{{-}}
{{DNQATV/mục|悲|Bây||n|Tiếng kêu các người vai dưới mà nói với. Tiếng trợ từ.}}
{{DNQATV/nghĩa||Chúng ―|id.}}
{{DNQATV/nghĩa||― giờ|Khi nầy, giây phút nầy ; đương giờ nầy ; tức thì.}}
{{DNQATV/nghĩa||― chầy|Bấy lâu. Lâu chừng nầy.}}
{{DNQATV/nghĩa||― nhiêu|Tầng nầy, ngằn nầy.}}
{{DNQATV/nghĩa||― việc|Phanh phôi, bươi việc ra.}}
{{DNQATV/nghĩa||Rằng ―|Mà rằng.}}
{{-}}
{{DNQATV/mục|敗|Bậy||n|Quấy quá ; lộn lạo ; không phải cách ; loạn thứ tự.}}
{{DNQATV/nghĩa||― bạ|id.}}
{{DNQATV/nghĩa||Đánh ―|Đánh cho lộn lạo, như quết thuốc, trộn thuốc. Đánh đập không phải phép, không nhằm cách. ''Đánh bậy, con nít không sợ''.}}
{{DNQATV/nghĩa||Lộn ―|Lộn lạo không phân biệt.}}
{{DNQATV/nghĩa||Nát ―|Nát ra không còn hình tích. ''Dưa chín quả, nát bậy''.}}
{{DNQATV/nghĩa||Rã ―|Rã rời khắp chỗ. ''Vách đất rã bậy''.}}
{{DNQATV/nghĩa||Làm ―|Làm quấy, làm không phải.}}
{{DNQATV/nghĩa||Nói ―|Nói quấy.}}
{{DNQATV/nghĩa||Xáo ―|Làm cho xào xáo. Trong nhà nó xáo bậy thì là chưởi mắng, không chừa để. Cũng có nghĩa là nấu lộn nhiều món vô một.}}
{{DNQATV/nghĩa||Chuyện ―|Chuyện không nên, không đáng.}}
{{DNQATV/nghĩa||― chuyện|Hư chuyện, hư việc.}}
{{-}}
{{DNQATV/mục|閉|Bấy||n|Chừng ấy, dường ấy. Rã ra ; nát ra. (Nói về trái cây, đồ nấu.)}}
{{DNQATV/nghĩa||― giờ|Một khi, một khi ấy.}}
{{DNQATV/nghĩa||― chày|Lâu dường ấy.}}
{{DNQATV/nghĩa||― lâu|Lâu chừng ấy. ''Sống bao lâu, cực bấy lâu!''}}
{{DNQATV/nghĩa||― lâu nay|Cho đến bây giờ.}}
{{DNQATV/nghĩa||― nhiêu|Nhiều chừng ấy. ''Ăn bao nhiêu, chịu bấy nhiêu''.}}
{{DNQATV/nghĩa||Giỏi ―!|Giỏi dường ấy.}}
{{DNQATV/nghĩa||Lắm ―!|Đến đỗi ấy, quá đỗi ấy. ''Giỏi lắm bấy, dở lắm bấy!'')}}
{{DNQATV/nghĩa||Nát ―|nát nhỏ, nát bấn. ''Đâm cho nát bấy''.}}
{{DNQATV/nghĩa||Chín ―|(Nói về trái cây, hoặc đồ nấu.)}}
{{DNQATV/nghĩa||― bá|Rã nát, rách nát. ''Thịt chín bấy bá. Dấu đâm bấy bá.''}}
{{DNQATV/nghĩa||― bã|Nát ra bã.}}
{{-}}
{{DNQATV/mục|悲|Bầy||n|Thường là tiếng kêu chung. Người ta đông kêu là đoàn ; thú vật đông kêu là bầy. Con nít đông cũng kêu là bầy, hay là lũ.}}
{{DNQATV/nghĩa||Một ―|Một bầy con nít ; một bầy trâu.}}
{{DNQATV/nghĩa||― trẻ|Đoàn con nít. (Tiếng kêu nói chung về các con trẻ.)}}
{{DNQATV/nghĩa||― ong|Một đoàn ong.}}
{{DNQATV/nghĩa||Ong ―|Ong nhiều con, có đoàn.}}
{{DNQATV/nghĩa||Chuột ― làm chẳng nên hang|Đông người mà không có trí, thì chẳng làm sự gì nên.}}
{{DNQATV/nghĩa||Cả ― cả lũ|Đông đảo lắm. Nói về người tầm thường : ''Kéo nhau đi cả bầy cả lũ''.}}
{{DNQATV/nghĩa||― hầy|Dơ dáy, không sạch sẽ.}}
{{DNQATV/nghĩa||― xầy|id. Bộ say sưa.}}
{{DNQATV/nghĩa||― nhầy|Những váng, những gân thứa mỏng mỏng đóng theo xương thịt. Da thịt nhão, thịt không săn : ''Thịt bầy nhầy''.}}
{{-}}
{{DNQATV/mục|𣞻|Bẩy||n|Đồ máy, đồ làm léo lắc để mà bắt chim, muông ; nát ra.}}
{{DNQATV/nghĩa||Đánh ―|Gài bẩy.}}
{{DNQATV/nghĩa||Mắc ―|Bị bẩy đánh nhầm. Bị lừa gạt.}}
{{DNQATV/nghĩa||Gài ―|Gài máy, lừa gạt. Làm mưu gạt gẫm.}}
{{DNQATV/nghĩa||Ham ăn mắc ―|Chim ham mồi thì mắc bẩy, người ham ăn thì mắc mưu. ''Nhơn vị tài tử, điểu vị thực vong''. 人爲財死鳥爲食亡. Chỉ nghĩa là con người ham của, con chim ham ăn đều phải chết.}}
{{DNQATV/nghĩa||― gan|Giận dữ lắm. ''Giận bẩy gan''.}}
{{DNQATV/nghĩa||Mưa ― đất|Mưa nhiều quá, làm cho đất nát bấy như bùn.}}
{{DNQATV/nghĩa||Giậm ― sân|Đi đạp nát sân nổi bùn.}}
}}<noinclude>{{Div col end}}
</div></noinclude>
erjt5zsw5rt4vxyt0rh325nqp4r8avu
Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/30
104
24050
67509
2019-01-21T16:57:51Z
Vinhtantran
484
/* Đã hiệu đính */
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|34||}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>cái nạn hồng-thủy lại tiếp theo ngay cái nạn hạn-hán. Hai cái nạn này thường hay sẩy ra ở những miền thuộc cõi trung-ương hạt hạ-du, về những nơi thấp hơn mặt nước ở lòng sông trong vụ nước lên, nhưng cao hơn lòng sông trong cái thời-kỳ nước xuống. Bởi thế trong những khi cần đến nước để cầy cấy thì không thể nào giẫn được nước ở lòng sông vào ruộng.
(Bởi thế phải bơm nước ở sông lên những con sông đào cao hơn lòng sông mà giẫn nước vào những ruộng cao. Về cái công cuộc bơm nước này thì phải cần đến những máy bơm rất mạnh).
Chính-phủ đã trù-tính năm đạo giẫn-thủy nhập-điền bằng máy bơm. Mỗi đạo có một hay hai con đường cống cái, lớn bằng những con sông tự nhiên; mỗi đường cống cái lại có những cống phụ, thông với những cái máng nước như là ở Kép, Vĩnh-yên và Bắc-giang. Thuộc về cái thời-kỳ mà sông Nhị-hà và sông Luộc hạ nhất, thì cái cống cái, chỗ phát-nguyên phải cao hơn mặt nước sông là 5 hay 6 thước. Ở chỗ đó thì đặt những máy bơm rất mạnh chạy bằng sức hơi-nước, để những khi nước thấp nhất thì cũng có thể bơm được rất nhiều nước mà giẫn đi các làng. Cái công-cuộc bơm nước này khiến cho 20 vạn hectares ruộng có đủ nước để cầy cấy. Thế là sau này, 86 vạn dân-cư ở miền hạ-du, năm nào cũng chắc được mùa, có dư thóc gạo để bán lấy lợi. Cái phần thứ nhất về cuộc bơm nước thì sẽ thực-hành ở hạt Sơn-tây.
Dân bản-xứ sau này có nhiều thóc-gạo xuất cảng thì có thể mua ở ngoại-quốc về các thứ chế-hóa-hạng để dùng như là: các hàng vải, đèn dầu-hỏa và đèn điện, máy khâu, xe đạp, máy bơm, các thứ cơ-khí thông thường, các vị thuốc cùng là biết bao nhiêu hóa-hạng khác nữa, rất cần cho việc vệ-sinh, làm cho cuộc sinh-hoạt của người ta được thêm phần lạc-thú.<noinclude></noinclude>
8p3w6agpe55ijw1pokblv3p0xihjiuj
Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/31
104
24051
67510
2019-01-21T17:02:21Z
Vinhtantran
484
/* Đã hiệu đính */
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" /></noinclude>{{giữa|
{{khung|{{larger|CHƯƠNG THỨ SÁU}}}}
{{x-larger|{{uc|Về những cách vận-tải}}}}}}
Một nước ruộng đất sinh-sản rất nhiều hoa-lợi, lại có những rừng lắm gỗ quí, dưới đất thì nhiều mỏ than, mỏ sắt, mỏ thiếc, mỏ kẽm... thế nhưng không có đường xá giao-thông, không có những cách vận-tải thuận tiện thì những sản-vật kia, cũng là vô-ích vậy. Người trong nước nhờ về những sản-vật đó mà sinh-tồn, nhưng dùng không hết, còn dư ra chút nào thì không thể đem đi nơi xa mà bán được.
Giả sử đem hàng đi bán ở ngoài cõi, mà khiêng vác trên lưng người ta, hay là trở bằng lừa ngựa thì sự phí tổn về việc vận-tải nhiều lắm. Vả muốn đem hàng ở ngoại-quốc vào nước nhà thì cũng mất nhiều tiền vận-tải. Cuộc vận-tải khó khăn, sở tốn nhiều thì tất là hàng bán rất đắt đỏ.
Thế là công lao nhiều, mà sự kết-quả thì rất ít, thành ra người ta không muốn lao-động nhiều, đành chịu kham khổ để khỏi mất nhiều công-phu.
Vậy nước nào có nhiều đường xá giao thông, cách vận-tải lại tinh xảo thì việc vận-tải không phí-tổn lắm. Các nhà xuất-sản trong nước, thức gì mà không tiêu-thụ hết, còn thừa ra bao nhiêu, chỉ việc đem ra thương-cảng ở bản-hạt để bán đi. Nhờ về cách vận-tải dễ dàng mà bán hàng được hời giá, mua thức gì để dùng cũng được dẻ tiền. Như vậy ai mà chẳng hởi dạ, cố sức lao-động để xuất sản được nhiều hơn sự nhu-yếu của mình. Người nào cũng muốn xuất-sản được nhiều như thế là để có thể mua được đủ các thứ vật-liệu có ích, hay là những thứ hàng xa-xỉ mà ở hạt nhà không có bán. Như là dân miền hạ-du xứ Bắc-kỳ, ở suốt các dọc sông, mỗi năm được hai vụ thóc, ăn không hết, thì đem bán cái phần thóc dư đi ngoại quốc. Ngoại-quốc giả tiền thóc gạo mua ở bản-xứ bằng các thứ: vải, dầu-hỏa, các món khí-cụ bằng thép và bằng sắt, đanh ốc, đanh thường, các thứ máy hơi; ô-tô, se-đạp; máy khâu, đồng hồ; sữa hộp; bột mì và bột lúa mạch.
Vậy thì cái vấn-đề vận-tải rất là quan trọng.
Xưa kia ở xứ Bắc-kỳ thì cuộc vận-tải chỉ nhờ về các đường sông. Tại<noinclude></noinclude>
6e2o10bi5kagi76j0be6asvuyio9dik
Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/32
104
24052
67511
2019-01-21T17:09:23Z
Vinhtantran
484
/* Đã hiệu đính */
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|36||}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>miền hạ-du, nhờ về nước thủy-triều, cho nên cuộc vận-tải bằng các đường sông là tiện-lợi lắm; vả có rất nhiều những con sông tạo-hóa cùng là những con sông đào. Còn như cuộc vận-tải về các hạt thượng-du, là các miền núi, nước sông chảy siết lắm, ở lòng sông lại có nhiều tảng đá nổi lên mặt nước, thành ra những con thác dữ dội; khi mùa đông thì nước cạn, khiến cho cuộc vận-tải, nhất là khi ngược nước thì rất chậm trạp và rất phí-tổn, mà khi xuôi thì lại rất là hiểm-trở. Bởi thế, xưa kia miền đồng-bằng đối với miền thượng-du thì cuộc thông-thương hiếm hoi lắm. Vả ngay ở miền hạ-du, cách vận-tải bằng các đường sông cũng rất chậm trễ. Ngày xưa tàu thủy chạy con đường Hanoi-Hai-phòng mỗi chuyến những 30 giờ, thường khi lại mất nhiều thì giờ hơn nữa.
[[File:6-cau viet tri.png|thumb|300px|trái|{g|''Cầu sắt ở Viétri, trên sông Thanh-giang để cho xe-lửa và hành-khách đi lại.''}}]]
[[File:6-cau sat.png|thumb|phải|300px|]]
Nhà-nước Đại-pháp bèn đặt ra đường xe-lửa. Có hai đường sắt chính, gặp nhau ở Hanoi, đi suốt<noinclude></noinclude>
26ecdqvosg4opb3stwt94qsimaevh61
Bản mẫu:Hình nổi
10
24053
67512
2019-01-21T17:17:06Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “<includeonly>{{#ifeq:{{{canh}}}|giữa| <div style="margin: 1.0em auto 1.0em auto;<!-- -->text-align:{{#switch:{{{canh chữ|center}}}<!-- -->|giữa=c…”
wikitext
text/x-wiki
<includeonly>{{#ifeq:{{{canh}}}|giữa|
<div style="margin: 1.0em auto 1.0em auto;<!--
-->text-align:{{#switch:{{{canh chữ|center}}}<!--
-->|giữa=center;<!--
-->|trái =left;<!--
-->|hai bên=justify;<!--
-->|phải =right; }}<!--
-->padding:0 0.5em 0 0.5em;<!--
-->background-color:transparent;<!--
-->width:{{{rộng|150px}}}; {{{style|}}}"><!--
text above picture
-->{{#if:{{{trên|}}}|{{{trên}}}<br />}}<!--
Insert image
-->[[Tập tin:{{{hình}}}|{{{rộng|giữa|150px}}}|alt={{{thế|}}}]]<!--
Caption cell (only if needed)
-->{{#if:{{{chữ|}}}|<br />{{{chữ}}}}}<!-- Caption contents
--></div>
|<span style="{{#switch:{{{canh|right}}}<!--
-->|trái =float:left;<!--
-->|phải =float:right; }}<!--
-->text-align:{{#switch:{{{canh chữ|center}}}<!--
-->|giữa=center;<!--
-->|trái =left;<!--
-->|hai bên =justify;<!--
-->|phải =right; }}<!--
-->padding:0 {{#ifeq:{{{canh|phải}}}|phải|0|0.5em}} 0 {{#ifeq:{{{canh|phải}}}|trái|0|0.5em}};<!--
-->background-color:transparent;<!--
-->width:{{{rộng|150px}}}; {{{style|}}}"><!--
text above picture
-->{{#if:{{{trên|}}}|{{{trên}}}<br />}}<!--
Insert image
-->[[Tập tin:{{{hình}}}|{{{rộng|150px}}}|alt={{{thế|}}}]]<!--
Caption cell (only if needed)
-->{{#if:{{{chữ|}}}|<br />{{{chữ}}}}}<!-- Caption contents
--></span>}}</includeonly><noinclude>
{{documentation}}
</noinclude>
91wwelmj6b12b20399km02j3emem009
67514
67512
2019-01-21T17:32:58Z
Vinhtantran
484
wikitext
text/x-wiki
<includeonly>{{#ifeq:{{{canh}}}|giữa|
<div style="margin: 1.0em auto 1.0em auto;<!--
-->text-align:{{#switch:{{{canh chữ|center}}}<!--
-->|giữa=center;<!--
-->|trái =left;<!--
-->|hai bên=justify;<!--
-->|phải =right; }}<!--
-->padding:0 0.5em 0 0.5em;<!--
-->background-color:transparent;<!--
-->width:{{{rộng|150px}}}; {{{style|}}}"><!--
text above picture
-->{{#if:{{{trên|}}}|{{{trên}}}<br />}}<!--
Insert image
-->[[Tập tin:{{{hình}}}|{{{rộng|giữa|150px}}}|alt={{{thế|}}}]]<!--
Caption cell (only if needed)
-->{{#if:{{{chữ|}}}|<br />{{{chữ}}}}}<!-- Caption contents
--></div>
|<span style="{{#switch:{{{canh|phải}}}<!--
-->|trái =float:left;<!--
-->|phải =float:right; }}<!--
-->text-align:{{#switch:{{{canh chữ|giữa}}}<!--
-->|giữa=center;<!--
-->|trái =left;<!--
-->|hai bên =justify;<!--
-->|phải =right; }}<!--
-->padding:0 {{#ifeq:{{{canh|phải}}}|phải|0|0.5em}} 0 {{#ifeq:{{{canh|phải}}}|trái|0|0.5em}};<!--
-->background-color:transparent;<!--
-->width:{{{rộng|150px}}}; {{{style|}}}"><!--
text above picture
-->{{#if:{{{trên|}}}|{{{trên}}}<br />}}<!--
Insert image
-->[[Tập tin:{{{hình}}}|{{{rộng|150px}}}|alt={{{thế|}}}]]<!--
Caption cell (only if needed)
-->{{#if:{{{chữ|}}}|<br />{{{chữ}}}}}<!-- Caption contents
--></span>}}</includeonly><noinclude>
{{documentation}}
</noinclude>
qx6tmav0kbqr47sue9mpkztrot3bx82
Bản mẫu:Hình nổi/doc
10
24054
67513
2019-01-21T17:29:47Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{documentation subpage}} ==Cách dùng== Tạo hình và chú thích hình nổi. <pre>{{Hình nổi | style = | trên = | hình = | rộng…”
wikitext
text/x-wiki
{{documentation subpage}}
==Cách dùng==
Tạo hình và chú thích hình nổi.
<pre>{{Hình nổi
| style =
| trên =
| hình =
| rộng =
| canh =
| chữ =
| canh chữ =
| thế =
}}</pre>
===Tham số===
* {{parameter|style}}: thêm thuộc tính kiểu (style) css. Nếu bạn đổi cỡ chữ theo phần trăm bạn nên đổi luôn chiều chiều cao hàng (line-height). Ví dụ nếu bạn muốn cỡ chữ (font-size) là 80%: <nowiki>| style = font-size: 80%; line-height: 80%;</nowiki>
* {{parameter|trên}}: thêm văn bản vào phía trên hình
* {{parameter|hình}}: Tên tập tin (không có tiền tố "Tập tin:") (tham số bắt buộc)
* {{parameter|rộng}}: Chiều rộng hình (tùy chọn, ''mặc định 150px'')
* {{parameter|canh}}: Canh hình trong trang ("trái", "phải" hoặc "giữa"; ''mặc định "phải"'').
* {{parameter|chữ}}: Chú thích hình (tùy chọn). Đừng dùng thẻ <nowiki><div></nowiki> hoặc bản mẫu dựa trên thẻ đó như {{tl|khối nhỏ}} nếu bản mẫu nằm ở giữa đoạn văn vì MediaWiki sẽ thêm dấu xuống dòng.
* {{parameter|canh chữ}}: Canh văn bản chú thích ("trái", "phải" hoặc "giữa"; ''mặc định "giữa"'')
* {{parameter|thế}}: Đoạn văn bản thay thế cho hình khi rà chuột lên khung hình hoặc dùng khi hình không hiển thị được (tùy chọn)
===Ví dụ===
====Hình bên phải====
<pre><nowiki>
{{Hình nổi
| hình = The Kinematics of Machinery Fig 2.jpg
| rộng = 250px
| canh = phải
| chữ = Hình 2.
}}
</nowiki></pre>
<div class="prose">
{{Hình nổi
|hình=The Kinematics of Machinery Fig 1.png
|rộng=250px
|canh=phải
|chữ=Hình 2.
}}
{{lorem ipsum}}
</div>
====Hình bên trái====
<pre><nowiki>
{{Hình nổi
| hình = The Kinematics of Machinery Fig 2.jpg
| rộng = 250px
| canh = trái
| chữ = Hình 2.
}}
</nowiki></pre>
<div class="prose">
{{Hình nổi
|hình=The Kinematics of Machinery Fig 1.png
|rộng=250px
|canh=trái
|chữ=Hình 2.
}}
{{lorem ipsum}}
</div>
====Chú thích hình canh trái====
<pre><nowiki>
{{Hình nổi
| hình = The Kinematics of Machinery Fig 2.jpg
| rộng = 250px
| canh = phải
| chữ = Hình 2.
| canh chữ = trái
}}
</nowiki></pre>
<div class="prose">
{{Hình nổi
|hình = The Kinematics of Machinery Fig 1.png
|rộng = 250px
|canh = phải
|chữ = Hình 2. Bên trái.
|canh chữ = trái
}}
{{lorem ipsum}}
</div>
====Hình bên phải với chữ phía trên====
<pre><nowiki>
{{Hình nổi
| style =
| trên = Hình 2.
| hình = The Kinematics of Machinery Fig 1.png
| rộng = 250px
| canh = phải
| chữ = This is image of kinematics of machinery fig 1.
}}
</nowiki></pre>
<div class="prose">
{{Hình nổi
| style =
| trên = Hình 2.
| hình = The Kinematics of Machinery Fig 1.png
| rộng = 250px
| canh = phải
| chữ = This is image of kinematics of machinery fig 1.
}}
{{lorem ipsum}}
</div>
====Hình ở giữa====
Chú ý: Văn bản sẽ không bọc xung quanh hình canh giữa.
<pre><nowiki>
{{Hình nổi
| hình = The Kinematics of Machinery Fig 2.jpg
| rộng = 250px
| canh = giữa
| chữ = Hình 2.
}}
</nowiki></pre>
<div class="prose">
{{lorem ipsum}}
{{Hình nổi
| hình = The Kinematics of Machinery Fig 2.jpg
| rộng = 250px
| canh = giữa
| chữ = Hình 2.
}}
{{lorem ipsum}}
</div>
===== Hình ở giữa (văn bản nổi xung quanh) =====
<pre><nowiki>
... Ut enim ad minim veniam, {{Hình nổi
|style=width:100%;text-align:center;
|hình=The Kinematics of Machinery Fig 1.png
|rộng=250px
|canh=trái
|chữ=Hình 2.
}} quis nostrud exercitation ullamco ...
</nowiki></pre>
<div class="prose">
Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, {{Hình nổi
|style=width:100%;text-align:center;
|hình=The Kinematics of Machinery Fig 1.png
|rộng=250px
|canh=trái
|chữ=Hình 2.
}} quis nostrud exercitation ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat. Duis aute irure dolor in reprehenderit in voluptate velit esse cillum dolore eu fugiat nulla pariatur. Excepteur sint occaecat cupidatat non proident, sunt in culpa qui officia deserunt mollit anim id est laborum.
</div>
=====Hình ở giữa không có bản mẫu=====
Một cách khác là không cần dùng bản mẫu cho trường hợp này, chỉ cần chèn hình sau đó là chú thích như sau:
<pre><nowiki>
{{lorem ipsum}}
[[Tập tin:The Kinematics of Machinery Fig 1.png|giữa|250px]]
{{g|Hình 2.}}
{{lorem ipsum}}
</nowiki></pre>
<div class="prose">
{{lorem ipsum}}
[[Tập tin:The Kinematics of Machinery Fig 1.png|giữa|250px]]
{{g|Hình 2.}}
{{lorem ipsum}}
</div>
====Cảnh báo: div làm nhảy dòng====
<pre><nowiki>
{{lorem ipsum}}
{{Hình nổi
| hình = The Kinematics of Machinery Fig 2.jpg
| rộng = 250px
| chữ = {{khối nhỏ|Bản mẫu này sẽ làm nhảy dòng nơi chèn bản mẫu.}}
}}
{{lorem ipsum}}
</nowiki></pre>
<div class="prose">
{{lorem ipsum}}
{{Hình nổi
| hình = The Kinematics of Machinery Fig 2.jpg
| rộng = 250px
| chữ = {{khối nhỏ|Bản mẫu này sẽ làm nhảy dòng nơi chèn bản mẫu.}}
}}
{{lorem ipsum}}
</div>
<!-- template categories and interwiki links -->
<includeonly>
[[Category:Bản mẫu hình ảnh]]
</includeonly>
3jok3v48xw0qwqaml207qr4zb5849fx
Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/33
104
24055
67515
2019-01-21T17:42:23Z
Vinhtantran
484
/* Đã hiệu đính */
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|||37}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>cõi Bắc-kỳ theo hình chữ thập. {{hình nổi
| hình = 6-ha noi vinh yen.png
| canh = giữa
| rộng = 500px
| chữ = {{g|''Ở Bắc-kỳ'' — Đường Hanoï đi Vĩnh-yên.}}
}} Ngày nay đi đường Hanoi-Hải-phòng chỉ trong ba giờ đồng-hồ mà thôi, chứ không mất những ba mươi giờ đồng-hồ như trước nữa. Còn đường Hanoi-Lạng-son thì {{hình nổi
| hình = 6-duong thai nguyen.png
| canh = giữa
| rộng = 500px
| chữ = {{g|''Mội nơi ở cõi Trung-du mà xưa kia cách giao-thông rất khó khăn và rất nguy hiểm''.<br/>Con đường Thái-nguyên đi chợ Chu.}}
}} mỗi chuyến là 5 giờ, chứ không như xưa, mất hàng bảy tám ngày, mà cách<noinclude></noinclude>
3ll6qiityd7sb61sy8yv8qp1pnn2ek9
Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/34
104
24056
67516
2019-01-21T17:46:20Z
Vinhtantran
484
/* Đã hiệu đính */
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|38||}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>vận-tải lại rất khó-khăn, rất phí-tổn và rất nguy-hiểm nữa. Từ Hanoi đi Lao-kay thì 9 giờ đồng hồ, chứ không mất ba tuần lễ như cách đi thuyền vậy.
Xứ nào mà có xe-lửa đi qua thì dần dần khai phá hết những rừng rậm và những đồng cỏ hoang, làm cho đồng điền ngày càng nhiều ra, dân-cư ngày càng đông đúc, người nhà-quê đi một nửa giờ đã tới chợ, mua bán xong, đến trưa lại giở về nhà được. Xưa kia đi chợ thì phải đi những con đường ruộng, rất là khó khăn, trên vai thì gánh nặng, thường đi ròng rã năm giờ đồng hồ, mệt nhọc dường bao!
[[File:6-paul doumer mo rong.png|thumb|giữa|500px|{{g|''Những công việc mở rộng cầu sắt Doumer ở Hanoï.''}}]]
Nay nhờ có xe-lửa, người Bắc-kỳ có thể đi buôn bán tại những xứ Thổ Mán, và mạn Vân-nam cùng là miền bắc Trung-kỳ.
Qua sông thì xe-lửa đi trên những cái cầu rất lớn, như là cầu sắt Hanoi dài tới 1700 thước, dù nước sông Nhị-hà lên to đến đâu, cũng không trở ngại gì. Ở sông Thái-bình, gần tỉnh-lỵ Hải-dương, và tại Vật-trì cũng đều có cầu sắt bắc qua sông, cùng là biết bao nhiêu nơi khác có cầu nữa; hành-khách và xe-ngựa đều đi trên những cầu này để qua sông. Đường xe-lửa Vân-nam thì nhiều nơi xe-lửa đi qua những cái toại-đạo, là những con đường đi xuyên qua núi.
'''Đường-sá.''' — Trước khi Đại-pháp lập nền bảo-hộ thì ở bản-xứ, những khi tốt-giời mới có thể đi xe được ở trên các đường đê hoặc là ở những con đường đất mà thôi: vả những con đường đủ rộng cho xe đi này cũng rất hiếm. Khi xưa ta chỉ có một cách vận-tải, là khiêng vác;<noinclude></noinclude>
2slbm2ivvnz04hkzizojxct7pt1zlwq
67522
67516
2019-01-21T17:59:20Z
Vinhtantran
484
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|38||}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>vận-tải lại rất khó-khăn, rất phí-tổn và rất nguy-hiểm nữa. Từ Hanoi đi Lao-kay thì 9 giờ đồng hồ, chứ không mất ba tuần lễ như cách đi thuyền vậy.
Xứ nào mà có xe-lửa đi qua thì dần dần khai phá hết những rừng rậm và những đồng cỏ hoang, làm cho đồng điền ngày càng nhiều ra, dân-cư ngày càng đông đúc, người nhà-quê đi một nửa giờ đã tới chợ, mua bán xong, đến trưa lại giở về nhà được. Xưa kia đi chợ thì phải đi những con đường ruộng, rất là khó khăn, trên vai thì gánh nặng, thường đi ròng rã năm giờ đồng hồ, mệt nhọc dường bao!
[[File:6-paul doumer mo rong.png|thumb|giữa|500px|{{g|''Những công việc mở rộng cầu sắt Doumer ở Hanoï.''}}]]
Nay nhờ có xe-lửa, người Bắc-kỳ có thể đi buôn bán tại những xứ Thổ Mán, và mạn Vân-nam cùng là miền bắc Trung-kỳ.
Qua sông thì xe-lửa đi trên những cái cầu rất lớn, như là cầu sắt Hanoi dài tới 1700 thước, dù nước sông Nhị-hà lên to đến đâu, cũng không trở ngại gì. Ở sông Thái-bình, gần tỉnh-lỵ Hải-dương, và tại Vật-trì cũng đều có cầu sắt bắc qua sông, cùng là biết bao nhiêu nơi khác có cầu nữa; hành-khách và xe-ngựa đều đi trên những cầu này để qua sông. Đường xe-lửa Vân-nam thì nhiều nơi xe-lửa đi qua những cái toại-đạo, là những con đường đi xuyên qua núi.
''Đường-sá.'' — Trước khi Đại-pháp lập nền bảo-hộ thì ở bản-xứ, những khi tốt-giời mới có thể đi xe được ở trên các đường đê hoặc là ở những con đường đất mà thôi: vả những con đường đủ rộng cho xe đi này cũng rất hiếm. Khi xưa ta chỉ có một cách vận-tải, là khiêng vác;<noinclude></noinclude>
jfh7ykc54u3quzahbs6lfivky2y3uso
Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/35
104
24057
67517
2019-01-21T17:51:11Z
Vinhtantran
484
/* Đã hiệu đính */
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|||39}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>hàng hóa thì gánh, còn người thì đi cáng hay đi võng, ngoài những đường đê thì chỉ có những con đường ruộng rất nhỏ hẹp, thường trơn lầy, quanh-co khuất khúc.
Kỳ thủy người Quí-quốc tưởng là người bản-xứ vốn ưa những cách vận-tải hủ lậu cổ-thời ấy, nghĩ bụng rằng người Nam ta ưa đi chân không, giả sử làm đường đá thì đau chân. Vì thế khi bấy giờ chỉ làm một ít đường đi mà thôi: một vài con đường có lát đá, rộng hơn những con đường ruộng đôi chút để cho quân lính đi cho tiện.
Đến ngày làm ra những con đường rộng thứ nhất, có lát đá thì có người nói rằng: đường làm như thế, chỉ cốt để cho những người tây giầu có, đi ô-tô mà thôi. Sau người bản-xứ đều hiểu rằng những công việc làm đường ích lợi là thế nào, từ đó xe tay ngày càng nhiều mãi ra, rồi lại dùng đến xe bò, xe ngựa. Một cái xe bò ba người vừa kéo vừa đẩy thì trở được bằng sức mười người. Chính-phủ bảo-hộ nghiệm ngay ra rằng công-việc làm đường là có ích cho dân bản-xứ. Từ đó giở đi công việc làm đường bành-trướng mãi ra. Việc làm đường, sở tốn rất nhiều, vì phải đắp mặt đất cho cao và phải làm biết bao nhiêu cái cầu nhỏ, cùng là tải đá cứng ở nơi xa đến, đập nhỏ ra mà lát đường. Thắm thoát trong mười lăm năm trời mà làm xong được lắm đường rất đẹp, lát đá phẳng lì. Trong mươi năm nữa thì các chợ lớn trong nước đều có những con đường rộng rãi để cho người ta đi lại mua bán một cách thực dễ dàng. Ngày nay đã có nhiều người bản-xứ dùng ô-tô. Người nghèo cũng có cái thú được đi ô-tô, vì có những ô-tô thuê để trở hành-khách. Xưa kia, người An-nam không hay đi ra khỏi làng nhà. Những người buôn bán thì chỉ đi đến những chợ ở làng bên láng giềng mà thôi. Ngày nay thì người nhà-quê ta, trong một ngày mà có thể đi buôn bán ở những hạt thực xa, bán xong, đến tối lại trở về nhà, chẳng lo nỗi trộm cướp. Nay nhờ có xe-lửa, ô-tô, người ta có thể đi một ngày từ Hanoi tới Huế. Dần dần thì các hạt thượng-du nhờ về những con đường tốt đẹp, được gần gụi miền hạ-du. Nay đã có đường đi lên Cao-bằng, Bắc-kạn rất dễ dàng; chẳng bao lâu lại có đường thông suốt tới Hà-giang. Người Bắc-kỳ đi buôn-bán, có thể đem hàng lên bán ở các chợ thuộc về những hạt xa chốn quê nhà ấy, mà cách đi thì rất chóng, không mệt nhọc gì, lộ-phí cũng chẳng là bao, buôn bán ở những hạt này thực là phát tài. Những người nghèo thì có thể đi làm ở các mỏ, đều được cao công. Những người ưa cuộc khai-hoang thì có cơ tậu được những đất rất tốt để khai-phá thành ruộng mà chẳng phí tổn là bao đồng tiền.
Đường xá thì có ích là như thế.
{{nop}}<noinclude></noinclude>
oifrjpsghmm1hitrjfs4z39849vszxk
67518
67517
2019-01-21T17:51:47Z
Vinhtantran
484
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|||39}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>hàng hóa thì gánh, còn người thì đi cáng hay đi võng, ngoài những đường đê thì chỉ có những con đường ruộng rất nhỏ hẹp, thường trơn lầy, quanh-co khuất khúc.
Kỳ thủy người Quí-quốc tưởng là người bản-xứ vốn ưa những cách vận-tải hủ lậu cổ-thời ấy, nghĩ bụng rằng người Nam ta ưa đi chân không, giả sử làm đường đá thì đau chân. Vì thế khi bấy giờ chỉ làm một ít đường đi mà thôi: một vài con đường có lát đá, rộng hơn những con đường ruộng đôi chút để cho quân lính đi cho tiện.
Đến ngày làm ra những con đường rộng thứ nhất, có lát đá thì có người nói rằng: đường làm như thế, chỉ cốt để cho những người tây giầu có, đi ô-tô mà thôi. Sau người bản-xứ đều hiểu rằng những công việc làm đường ích lợi là thế nào, từ đó xe tay ngày càng nhiều mãi ra, rồi lại dùng đến xe bò, xe ngựa. Một cái xe bò ba người vừa kéo vừa đẩy thì trở được bằng sức mười người. Chính-phủ bảo-hộ nghiệm ngay ra rằng công-việc làm đường là có ích cho dân bản-xứ. Từ đó giở đi công việc làm đường bành-trướng mãi ra. Việc làm đường, sở tốn rất nhiều, vì phải đắp mặt đất cho cao và phải làm biết bao nhiêu cái cầu nhỏ, cùng là tải đá cứng ở nơi xa đến, đập nhỏ ra mà lát đường. Thắm thoát trong mười lăm năm trời mà làm xong được lắm đường rất đẹp, lát đá phẳng lì. Trong mươi năm nữa thì các chợ lớn trong nước đều có những con đường rộng rãi để cho người ta đi lại mua bán một cách thực dễ dàng. Ngày nay đã có nhiều người bản-xứ dùng ô-tô. Người nghèo cũng có cái thú được đi ô-tô, vì có những ô-tô thuê để trở hành-khách. Xưa kia, người An-nam không hay đi ra khỏi làng nhà. Những người buôn bán thì chỉ đi đến những chợ ở làng bên láng giềng mà thôi. Ngày nay thì người nhà-quê ta, trong một ngày mà có thể đi buôn bán ở những hạt thực xa, bán xong, đến tối lại trở về nhà, chẳng lo nỗi trộm cướp. Nay nhờ có xe-lửa, ô-tô, người ta có thể đi một ngày từ Hanoi tới Huế. Dần dần thì các hạt thượng-du nhờ về những con đường tốt đẹp, được gần gụi miền hạ-du. Nay đã có đường đi lên Cao-bằng, Bắc-kạn rất dễ dàng; chẳng bao lâu lại có đường thông suốt tới Hà-giang. Người Bắc-kỳ đi buôn-bán, có thể đem hàng lên bán ở các chợ thuộc về những hạt xa chốn quê nhà ấy, mà cách đi thì rất chóng, không mệt nhọc gì, lộ-phí cũng chẳng là bao, buôn bán ở những hạt này thực là phát tài. Những người nghèo thì có thể đi làm ở các mỏ, đều được cao công. Những người ưa cuộc khai-hoang thì có cơ tậu được những đất rất tốt để khai-phá thành ruộng mà chẳng phí tổn là bao đồng tiền.
Đường xá thì có ích là như thế.
''Những sông đào.'' — Xưa nay ta chỉ biết lợi dụng những con sông<noinclude></noinclude>
qhqcpqit1m39f31orc08glz834aoddi
Trang:Xu Bac ky ngay nay.pdf/36
104
24058
67519
2019-01-21T17:56:38Z
Vinhtantran
484
/* Đã hiệu đính */
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Vinhtantran" />{{rh|40||}}{{rule}}{{rule}}</noinclude>thiên-tạo. Về miền cao-nguyên, ở hạt thượng-du, thì nước sông chảy xiết lại nông lòng, đá mọc ngổn ngang ở giữa dòng nước. Như là đi qua hạt Tuyên-quang, ngược lên thì chỉ có những thuyền nhỏ mới có thể đi trên con sông Thanh-giang được mà thôi. Ở miền hạ-du, bốn người có thể trở được cái thuyền tải những 50 tấn. Từ Đáp-cầu lên Thái-nguyên thì phải bốn người mới đủ sức để trở được cái thuyền nhỏ mà chỉ tải được tới 10 tấn là cùng; vậy năm cái thuyền, thì phải những 20 người. Từ Tuyên-quang mà đi ngược con sông Thanh-giang lên tới Hà-giang thì phải dùng những cái thuyền nho nhỏ, mỗi thuyền trở được một tấn là cùng, thế mà cũng phải bốn người mới trở được một cái thuyền, chẳng khác gì những thuyền lớn vậy. Giả sử một chuyến thuyền tải 50 chiếc thì phải có hai trăm người mới đủ sức để trở thuyền được. Thế là ở hạ-du chỉ phải bốn người để vận-tải 50 tấn hàng thì ở thượng-du cũng bấy nhiêu hàng phải dùng những 200 thủy-thủ. Vậy thì buôn bán sao được? Ở miền trung-châu, dân-cư đông đúc, việc tuyển mộ nhân-công, vì thế mà rất dễ dàng; còn như ở thượng-du thì dân-cư rất hiếm, cho nên không có đủ nhân-công để vận-tải được nhiều hàng hóa.
[[File:6-cau quay song cau.png|thumb|giữa|500px|{{g|''Cầu quay ở Sông Cầu'' — Về đường xe-lửa Hanoï-Lạng-sơn.}}]]
Chính-phủ bảo-hộ sở dĩ đào ra những con sông là vừa dùng về việc giẫn-thủy nhập điền vừa dùng về việc vận-tải nữa.
Hiện nay đương có cuộc đào một con sông từ Thái-nguyên (do sông-Cầu) đến sông Thương gần hạt Bắc-giang. Con sông này thì những thuyền tải 300 tấn có thể đi lại được. Suốt dọc bờ sông lại có con đường để dùng trâu bò kéo thuyền được. Nhờ về con sông này thì có thể trở than cùng là quặng sắt ở Thái-nguyên về miền hạ-du. Xưa nay không có thuyền tải những thức ấy, vì không đủ nhân-công. Khi nào cuộc đào sông mà hoàn-thành rồi thì mỏ Phan-mễ có thể xuất-sản hằng năm tới 30 vạn tấn, chứ không như bây giờ chỉ được có 3 vạn tấn mà thôi. Lại có cuộc khai khẩn các mỏ sắt ở hạt Thái-nguyên nữa. Cuộc khai mỏ chắc sẽ dùng tới mấy mười nghìn phu nữa, mà dùng toàn những hạng phu cao công. Vậy hạt Thái-nguyên và Yên-thế sẽ được phong túc dường bao mà tiệt hẳn những quân trộm cướp.
Hiện nay tại hạt Thanh-hóa cũng đương có cuộc đào sông như nói trên này.<noinclude></noinclude>
4e22egpdpouwm5a5vv6i1jrhcz6f0du
Xứ Bắc kỳ ngày nay/5
0
24059
67520
2019-01-21T17:57:43Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = [[../]] | tác giả = Henri Cucherousset | dịch giả = Trần Văn Quang | phần = Chương thứ năm |…”
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = [[../]]
| tác giả = Henri Cucherousset
| dịch giả = Trần Văn Quang
| phần = Chương thứ năm
| trước = [[../4|Chương thứ tư]]
| sau = [[../6|Chương thứ sáu]]
| ghi chú =
}}
<pages index="Xu Bac ky ngay nay.pdf" from=25 to=30 />
hpyylssox5ijoqeawzb1iqmnqom7dqb
Xứ Bắc kỳ ngày nay/6
0
24060
67521
2019-01-21T17:58:36Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = [[../]] | tác giả = Henri Cucherousset | dịch giả = Trần Văn Quang | phần = Chương thứ sáu |…”
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = [[../]]
| tác giả = Henri Cucherousset
| dịch giả = Trần Văn Quang
| phần = Chương thứ sáu
| trước = [[../5|Chương thứ năm]]
| sau = [[../7|Chương thứ bảy]]
| ghi chú =
}}
<pages index="Xu Bac ky ngay nay.pdf" from=31 to=36 />
0hn7wk8bt2mqa9m3qzryxgu83q4so6n
Đề tài:Usq6c5wudwz8dkd0
2600
24061
67523
2019-01-21T20:37:13Z
Flow talk page manager
7665
/* Trang này đã được chuyển đổi thành bảng tin Thảo luận Cấu trúc */
flow-board
application/json
{"flow-workflow":"usq6c5wudwz8dkd0"}
aigg3biw3480p1um1de8kuh9so7qexz
Bản mẫu:Dropinitial
10
24062
67526
2019-01-22T03:06:51Z
Vinhtantran
484
Vinhtantran đã đổi [[Bản mẫu:Dropinitial]] thành [[Bản mẫu:Dropcap]]: đổi tên cho dễ với người Việt, sử dụng trong ngôn ngữ in ấn tiếng Việt
wikitext
text/x-wiki
#đổi [[Bản mẫu:Dropcap]]
1pv10wbdz24t2d1fm90kv8ovy1s8fvq
Bản mẫu:Thanh ngang
10
24063
67531
2019-01-22T03:23:20Z
Vinhtantran
484
Vinhtantran đã đổi [[Bản mẫu:Thanh ngang]] thành [[Bản mẫu:Đường kẻ]]: có nghĩa hơn
wikitext
text/x-wiki
#đổi [[Bản mẫu:Đường kẻ]]
kxpix04m09a549lxb9i2lodlg0g6sal
Bản mẫu:Thanh ngang/doc
10
24064
67533
2019-01-22T03:23:21Z
Vinhtantran
484
Vinhtantran đã đổi [[Bản mẫu:Thanh ngang/doc]] thành [[Bản mẫu:Đường kẻ/doc]]: có nghĩa hơn
wikitext
text/x-wiki
#đổi [[Bản mẫu:Đường kẻ/doc]]
tjvkafnm3szqdvavyc2o28l2qbqoqb5
Bản mẫu:Chữ đầu lớn
10
24065
67537
2019-01-22T04:01:38Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “<includeonly><span class="largeinitial" style="font-size: {{#ifeq:{{{2|3em}}}|3em|3em|{{{2}}}}}; line-height: 1em; margin: {{#ifeq:{{{3|0em}}}|0em|0em|{{{3}}}}}…”
wikitext
text/x-wiki
<includeonly><span class="largeinitial" style="font-size: {{#ifeq:{{{2|3em}}}|3em|3em|{{{2}}}}}; line-height: 1em; margin: {{#ifeq:{{{3|0em}}}|0em|0em|{{{3}}}}} {{#ifeq:{{{4|0em}}}|0em|.05em|{{{4}}}}} {{#ifeq:{{{5|0em}}}|0em|0em|{{{5}}}}} {{#ifeq:{{{6|0em}}}|0em|0em|{{{6}}}}}; font-family:{{#if:{{{phông|{{{7|}}}}}}|{{{phông|{{{7}}}}}}|inherit}};">{{#ifeq:{{{1|A}}}|A|A|{{{1}}}}}</span></includeonly><noinclude>
{{documentation}}</noinclude>
b5f0shn6n515b90lw4ackakpyc2ym5q
Bản mẫu:Chữ đầu lớn/doc
10
24066
67538
2019-01-22T04:07:30Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{documentation subpage}} ==Cách dùng== Bản mẫu này để tạo ra chữ cái đầu lớn để bắt đầu một đoạn văn bản thường thấy…”
wikitext
text/x-wiki
{{documentation subpage}}
==Cách dùng==
Bản mẫu này để tạo ra chữ cái đầu lớn để bắt đầu một đoạn văn bản thường thấy trong sách in hiện đại lẫn cổ điển:
<blockquote>{{chữ đầu lớn|L}}orem ipsum sit amet...</blockquote>
== Để dùng ==
'''<nowiki>{{</nowiki>chữ đầu lớn|''nội dung''|''cỡ chữ''|''biên trên''|''biên phải''|''biên dưới''|''biên trái''|''kiểu chữ''<nowiki>}}</nowiki>'''.
* Tham số ''cỡ chữ'' và các tham số giá trị biên nên ghi bằng đơn vị tương đối, tức là bằng phần trăm hoặc bằng '[[w:en:En (typography)|en]]' hoặc '[[w:en:Em (typography)|em]]'.
* Tham số ''kiểu chữ'' ghi bằng '''font=''' ''serif'' hoặc ''sans-serif''.
Không có tham số nào là bắt buộc, trong trường hợp đó mặc định sẽ là
* nội dung = A
* cỡ chữ = 3em
* các biên = 0em
* font = serif
=== Kiểu chữ khác ===
Nếu bạn cần hiệu ứng "drop cap", tức là chữ đầu lớn và rơi xuống hàng dưới, dùng bản mẫu {{tl|dropcap}}:
<blockquote>{{dropcap|L}}orem ipsum suas propriae ne nam. Duo etiam omittam ea, ex mei nostrud interesset. Sea no idque aliquyam, cu utamur impedit usu. Has te falli explicari disputationi, in ius decore denique torquatos, id usu harum similique cotidieque. Splendide consequuntur ex quo. Ut qui primis alienum. At ignota consetetur moderatius qui. Et eam habeo mediocritatem, iisque neglegentur sed ut. Tempor apeirian moderatius ad sit. Everti iriure an nam, duo aliquip tamquam et, ne tollit graeco his. Et eum vidisse maiestatis.</blockquote>
== Xem thêm ==
*{{tl|Dropcap}}
*{{tl|Chữ đầu}}
<!-- template categories and interwiki links -->
<includeonly>
{{DEFAULTSORT:{{PAGENAME}}}}
[[Category:Bản mẫu sắp chữ]]
</includeonly>
ncb536fmhjq8bxafdnkuwht2f89ppkc
Bản mẫu:Dc
10
24067
67539
2019-01-22T04:07:58Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Dropcap]]
wikitext
text/x-wiki
#đổi [[Template:Dropcap]]
g3gyjr6dlpy33i0ob5yc4uxsehnf06g
Bản mẫu:Móc
10
24068
67541
2019-01-22T04:24:15Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “File:Brace segment, {{#switch:{{{1}}}|a=left|p=right|e=over|d=under|#default=left}}, {{#switch:{{{2}}}|e=end-top|d=end-bot|ge=mid-top|gd=mid-bot|g=mid|k=span|…”
wikitext
text/x-wiki
[[File:Brace segment, {{#switch:{{{1}}}|a=left|p=right|e=over|d=under|#default=left}}, {{#switch:{{{2}}}|e=end-top|d=end-bot|ge=mid-top|gd=mid-bot|g=mid|k=span|ne=half-top|nd=half-bot|a=end-left|p=end-right|ga=mid-left|gp=mid-right|na=half-left|np=half-right|#default=mid}}.svg|{{{3|25}}}px|link=|alt=]]<noinclude>
{{documentation}}
</noinclude>
m91fqvndwd35dhqsiu02mhppdwtvd1h
Bản mẫu:Móc/doc
10
24069
67542
2019-01-22T04:36:20Z
Vinhtantran
484
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{documentation subpage}} Bản mẫu chèn "đoạn móc": một phần bên ngoặc móc có thể đặt trong một bảng biểu để kéo dài ra nhiều…”
wikitext
text/x-wiki
{{documentation subpage}}
Bản mẫu chèn "đoạn móc": một phần bên ngoặc móc có thể đặt trong một bảng biểu để kéo dài ra nhiều mục.
==Cách dùng==
*Tham số 1 xác định hướng của ngoặc móc: a (trái - { ), p (phải - } ), e (trên - ⏞ ) hoặc d (dưới - ⏟⏟ ). Trái và trên phải dùng chữ tắt "a" và "e" vì tiếng Việt chữ "trái" và "trên" trùng cả hai ký tự đầu.
*Tham số 2 xác định phần của ngoặc móc:
:*e: phần cuối móc ở trên: {{móc|p|e}}
:*d: phần cuối móc ở dưới: {{móc|p|d}}
:*g: giữa (dành cho móc với số mục lẻ): {{móc|p|g}}
:*ge: giữa, trên (dành cho móc với số đoạn chẵn): {{móc|p|ge}}
:*gd: giữa, dưới (dành cho móc với số đoạn lẻ): {{móc|p|gd}}
:*k: kéo dài (giữa phần giữa và cuối): {{móc|p|k}}
:*ne: phần trên của nửa móc (for 2-segment mócs) {{móc|p|ht}}
:*hb: half-móc bottom (for 2-segment mócs) {{móc|p|hb}}
:*l: left end: {{móc|o|l}}
:*r: right end: {{móc|o|p}}
:*ml: middle, left (for mócs with even numbers of segments): {{móc|o|ml}}
:*mr: middle, right (for mócs with even numbers of segments): {{móc|o|mr}}
:*hl: half-móc left (for 2-segment mócs) {{móc|o|hl}}
:*hr: half-móc right (for 2-segment mócs) {{móc|o|hr}}
*Parameter 3 is an optional width for the segment tiles (default is 25) in pixels. All tiles in one móc must be the same for alignment.
*Note that the table needs to have zero padding and cell spacing. The template {{tl|móc table parameters}} will set these for you.
*In the case of horizontal (under and over) móc, left is the "top" and right the "bottom"
==Example==
{| {{móc table parameters}}
|Foo||{{móc|p|e}}||<tt><nowiki>{{móc|p|e}}</nowiki></tt>
|-
|Bar||{{móc|p|s}}||<tt><nowiki>{{móc|p|s}}</nowiki></tt>
|-
|Spam||{{móc|p|mt}}||<tt><nowiki>{{móc|p|mt}}</nowiki></tt>
|-
|Eggs||{{móc|p|mb}}||<tt><nowiki>{{móc|p|mb}}</nowiki></tt>
|-
|Bread||{{móc|p|s}}||<tt><nowiki>{{móc|p|s}}</nowiki></tt>
|-
|eext||{{móc|p|m}}||<tt><nowiki>{{móc|p|m}}</nowiki></tt>
|-
|eext||{{móc|p|b}}||<tt><nowiki>{{móc|p|b}}</nowiki></tt>
|-
|Stuff||{{móc|p|ht}}||<tt><nowiki>{{móc|p|ht}}</nowiki></tt>
|-
|ehings||{{móc|p|hb}}||<tt><nowiki>{{móc|p|hb}}</nowiki></tt>
|}
==See also==
*{{tl|móc table parameters}}
*{{tl|móc2}}
<!-- template categories and interwiki links -->
<includeonly>
[[Category:Formatting templates|{{PAGENAME}}]]
[[de:Template:móc]]
</includeonly>
sun5ppk9pqu1j2k6x9lgpp9ciygyh7x
Một ít khảo cứu: Chiến tranh ngày xưa không phải tướng đánh với tướng
0
24070
67545
2019-01-22T10:20:12Z
Tranminh360
1642
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = Một ít khảo cứu: Chiến tranh ngày xưa không phải tướng đánh với tướng | tác giả = Phan Khôi…”
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Một ít khảo cứu: Chiến tranh ngày xưa không phải tướng đánh với tướng
| tác giả = Phan Khôi
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1941
| ấn bản = có
| ghi chú = Bài đăng trên ''Dân báo'', Sài Gòn, số 622 (17 Juillet 1941), trang 1, 2; số 624 (19 Juillet 1941), trang 1, 4.
}}
{{văn|
Trong bài mang cái đầu đề “Người phương Đông ngày xưa đánh nhau thế nào?” đăng ở báo ''Trung Bắc chủ nhật''<ref>''Trung Bắc chủ nhật'': ban đầu là ấn phẩm ra ngày chủ nhật của nhật báo ''Trung Bắc tân văn'' (1913-1941), sau khi nhật báo kia đóng cửa, ''Trung Bắc chủ nhật'' trở thành tuần báo độc lập. Số 1 (3/3/1940), số cuối: số 262 (16/9/1945); tòa soạn: 36 Henri D’ Orléan, Hà Nội; Đào Trinh Nhất viết và làm biên tập cho tuần báo này sau khi bị trục xuất từ Sài Gòn ra Bắc (từ tháng 7/1939).</ref> số 63, tác giả ký là Quán Chi. Quán Chi, tôi biết là ông [[Tác gia:Đào Trinh Nhất|Đào Trinh Nhất]]. Vì thấy trong bài ấy có chỗ sai lầm nên tôi lấy tư cách là một người bạn, viết mà đính chánh lại, đồng thời cũng mong đưa độc giả đến sự hiểu đúng, e rằng họ có đọc bài ông Đào mà hiểu sai theo ông ấy chăng.
Ông Đào, trong bài của ông, nói người đời xưa đánh trận bằng xe, đến thuở Tần Hán bỏ xe, bắt chước người Hung Nô đánh trận bằng ngựa. Những chỗ ấy rất đúng, không ai cãi được.
Nhưng ông đã có điều lầm lạc ở những chỗ nầy: Ông nhận cho đời xưa đánh trận là tướng đánh nhau chớ quân không đánh; hay quân dầu có đánh cũng chẳng quan hệ với sự thành bại là mấy. Cho nên ông nói:
“Ông tướng đi trước ba quân và múa long đao nhảy ra giao chiến với viên tướng bên địch. Hễ tướng thắng tức thị quân thắng, tướng thua tức thị quân thua”.
Tiếp đó ông còn nói:
“Một khi nước có chinh chiến, dường như người ta không cần biết quân số ít nhiều mạnh yếu, miễn có một vị quân sư có mưu mô xuất quỷ nhập thần như hạng Trương Lương, [[Tác gia:Gia Cát Lượng|Gia Cát]], năm ba chiến tướng hùng hổ như kiểu Lữ Bỗ, Trương Phi, thế là quốc nhân yên lòng và nhiều hy vọng”.
Hết thảy những điều ông nói đó đều sai cả, không đúng một chút nào với thực trạng chiến tranh cổ thời.
Đến đây phải để cho tôi than thở vài lời. Tôi than thở rằng trong học giới nước ta, lịch sử không cất đầu lên nổi, để cho tiểu thuyết làm gió làm mưa, dầu đến người hữu học như ông Đào cũng còn đặt quan niệm mình theo tiểu thuyết, mà hễ theo tiểu thuyết thì sai cả!
Phải theo lịch sử mà đính chánh lại rằng đời xưa đánh trận không phải chỉ tướng đánh với tướng đâu; từ có các nhà làm tiểu thuyết, cho được tiện sự mô tả, họ phải nói tướng đánh với tướng.
Không những tiểu thuyết, nghề vẽ và nghề hát tuồng cũng bị buộc phải làm như nhà tiểu thuyết.
Bao nhiêu bức vẽ về chiến trận đời xưa, họa sĩ đều trình bày bằng hai viên tướng cỡi ngựa cầm khí giới giao phong với nhau, đằng sau mỗi viên tướng điểm chuyết thêm ít nhiều quân lính.
Hát tuồng cũng vậy. Muốn diễn cuộc chiến tranh trên sân khấu, cũng dùng hai viên tướng, cầm gươm hoặc giáo, ngón tay út đeo con roi giả làm cỡi ngựa mà đối địch cùng nhau; quân lính thì chỉ có vài tên hiệu vác cờ đứng chung quanh “hượi hượi”. Ấy là bởi trên một tờ giấy và trên một sân khấu không có thể dung được số quân hàng vạn, người ta phải vẽ và phải giải bằng cái lối tượng trưng như thế, nó đã tiện mà nó cũng làm nổi bật sự thật lên hơn. Cứ lấy con roi đeo ngón tay đủ là con ngựa mà suy ra, khắc thấy rằng trong cõi tượng trưng, về nghề hát tuồng hay về nghề vẽ cũng thế, có sự bao hàm rất rộng, hình như thế nào cũng được cả.
Người cầm bút viết tiểu thuyết, khi muốn tả một cuộc chiến tranh, cũng không thể không dùng lối tượng trưng ấy. Nếu tả theo sự thực thì nó tán mạn và buồn tẻ nữa. Nhà tiểu thuyết, bởi sự cực chẳng đã và cũng bởi sự khôn ngoan, chỉ tả nội hai viên tướng, làm cho một giả cuộc trở nên có thinh có sắc và rốt lại, sự thắng bại của đôi bên cũng rạch ròi dễ thấy hơn. Không phải là nhà tiểu thuyết không tả được cuộc chiến tranh theo sự thực, nghĩa là chỉ quân đánh thôi, tướng theo sau đốc suất; nhưng làm thế thì mất cái hay của tiểu thuyết đi, đó là cái phần mà người ta để dành cho nhà làm lịch sử vậy.
Theo lịch sử, cuộc chiến tranh đời xưa, về cách đánh cũng chẳng khác đời nay là mấy. Bao giờ cũng toàn thể một đội quân cùng nhau hoạt động trong sự tấn công hay ứng chiến; còn tướng chỉ là kẻ ở cái địa vị chỉ huy và đốc suất.
Ông Đào không nói rõ rằng quân không đánh, nhưng theo hai đoạn dẫn trên đó thì muốn như là quân không đánh; và dầu có đánh cũng chẳng lấy làm quan hệ, mà chỉ quan hệ ở ông tướng.
Quân sao lại không đánh? Không đánh thì dùng quân làm gì? Sự nhiều ít của số quân và sức mạnh hay yếu, người đời xưa cũng kể lắm, sao lại nói được rằng không kể, dầu ông đã biết dè dặt bằng hai chữ hình như?
Đây là những chứng cứ của những điều ấy. Ông Đào đã biết đời xưa người Tàu đánh trận bằng xe, kêu bằng “xa chiến”, thì ông phải biết trong khi xa chiến đó toàn dùng quân lính để công kích bên địch.
Theo phép, mỗi một cỗ nhung xa có bao nhiêu giáp sĩ, chia ngồi hai bên tả và hữu để giao chiến với địch binh. Cho nên ở thiên ''Cam thệ'', thuộc về ''Thương thơ'', lịch sử nhà Thương, khi vua tuyên thệ cùng quân sĩ sắp đi đánh giặc ở đất Cam, có nói rằng: “Ở bên tả mà không đánh bên tả, thế là chúng bay chẳng vâng mạng; ở bên hữu mà không đánh bên hữu, thế là chúng bay chẳng vâng mạng”. Nói “chúng bay” đó là chỉ những người giáp sĩ, rõ ràng quân lính có dự phần tác chiến.
Đời xưa tuy dùng xa chiến mà cũng có bộ binh nữa. Trong thiên ''Thái thệ'', thuộc về ''Châu thơ'', lịch sử nhà Châu, khi Võ Vương đi đánh Trụ cũng có thệ sư mà bảo quân sĩ phải giơ cái giáo lên, dựng cái xà mâu lên, ai nấy không được lỗi và phải rập trong các kỷ luật “bộ” và “phạt”. Bộ tức là từng bước đi, phạt tức là sự đâm chém. Đó là phép tắc đại khái của bộ binh, người lính cũng vẫn dự phần tác chiến như lúc đánh bằng xe vậy.
Cũng trong thiên ''Thái thệ'', Võ Vương nói: “Trụ có bầy tôi ức triệu mà đến ức triệu lòng, còn ta có bầy tôi ba ngàn mà duy một lòng”. Thế thì cũng vẫn kể số quân nhiều hay ít đó chớ; có điều nhiều mà ô hợp thì đành là không kể.
Đánh trận thường cậy ở số quân đông để làm khiếp vía quân địch, cho nên trong ''Sử ký'', khi Hạng Võ đóng ở Hồng Môn, quân chỉ có 50 vạn mà hô lên 100 vạn; Bái Công đóng ở Bái Thượng, quân chỉ có 10 vạn mà cũng hô lên 50 vạn. Đó là cái chứng cứ lấy quân số nhiều ít làm quan hệ.
Sức quân mạnh hay yếu cũng quan hệ như thế. Đời xưa, trong khi lâm trận, người ta thường giấu những lính tráng mạnh mẽ đi mà phơi ra những kẻ già yếu để cho bên địch thấy mà dể ngươi.<ref>Dể ngươi: không cảnh giác, xem thường (''Từ điển phương ngữ Nam Bộ '')</ref> Cái trận đánh nhau ở Bình Thành, Hán Cao tổ thua liểng xiểng bởi quân Hung Nô, cũng vì bị gạt bằng cách ấy. Người đời xưa vẫn kể sức quân mạnh hay yếu, đó là một chứng cứ.
{{ba sao}}
Bài trước đã lấy nhiều chứng cứ để tỏ ra rằng trong một trận chiến tranh đời xưa, cái phần tác chiến là ở quân lính; đến bài nầy lại lấy nhiều chứng cứ khác để thấy rằng tướng không đánh là lệ thường, mà tướng có đánh chỉ là lệ ngoại.
Kêu bằng tướng, ta phải chia ra hai hạng: một hạng đại tướng như Hàn Tín, Nhạc Phi, ở một chỗ mà cầm binh chớ không ra trận, và dầu có ra trận cũng không đánh; và một hạng chiến tướng như Phàn Khoái, Trương Phi, ra trận để đốc thúc quân lính, một đôi khi có đánh.
Ông Đào nói tướng đời xưa bao giờ cũng “đi trước ba quân”; không phải, tướng bao giờ cũng đi sau quân. Vì có đi sau mới đốc thúc được chứ. Có đạo quân kêu bằng “tiền phong”; “tiền” nghĩa là đi trước. Nhưng đó là nói đạo quân ấy đi trước các đạo khác; chứ cứ kể trong đạo ấy thì cũng quân ở trước mà tướng ở sau.
Tôi kể ra đây cái trận “bối thủy” của Hàn Tín là trận có tiếng trong lịch sử.
Bấy giờ Hàn Tín vâng mạng Hán vương đi đánh nước Triệu. Nước Triệu có một thành đóng ở nơi một phía gần sông, một phía gần núi, trong thành có tướng sĩ giữ vững lắm. Hàn Tín muốn chiếm lấy thành ấy, bèn lập kế tấn công.
Sáng sớm hôm ấy, Tín sai một vạn người đi ra giàn trận ở bờ sông, quay lưng với nước (vì vậy gọi là “bối thủy”). Lại sai vài ngàn người đi phục ở một nơi và dặn: “Khi nào thấy quân Triệu ra khỏi thành thì ào vào thành, nhổ bỏ cờ xí của Triệu mà cắm cờ xí của Hán lên”. Còn chính Hàn Tín là đại tướng lúc đó làm gì, ở đâu, trong sách không nói đến.
Tướng sĩ Triệu đóng trong thành, thấy quân Hán giàn trận ở bờ sông để công kích mình thì cho là bên địch tự chiếm lấy thế tử, còn mình được thế sanh, bèn kéo cả thành ra và khởi thế công trước. Trong ý họ nghĩ rằng đánh rắp như vậy, một vạn người kia sẽ không có đường chạy mà đâm đầu xuống nước cả. Không ngờ bọn này liều chết cố cự lại, quân Triệu làm gì không xuể, rủ nhau chạy trở về trong thành thì thấy đầy cả cờ xí của Hán rồi, đều cả kinh. Trong khi ấy thì Hàn Tín dóng trống mở cờ đại tướng mà đi tới từ phía núi, kéo thẳng vào thành. Quân Triệu phải bó tay xin hàng cả.
Coi đó thì biết trong trận ấy Hàn Tín làm đại tướng, chỉ có lập mưu thủ thắng mà thôi, chứ không hề ra trận và tác chiến.
Kể một trận nữa là trận Phí Thủy, quân Tấn đánh với quân Bồ Tần. Bên Bồ Tần, Tần vương Kiên kéo đến một trăm vạn quân; còn bên Tấn chỉ có 8 vạn, Tạ Huyền làm đại tướng, đóng hành dinh ở một nơi, nhưng còn phải chịu tiết chế của Tạ An là chú, làm thủ tướng ở triều.
Khi quân hai bên giàn ra trên hai bờ sông gọi là Phí Thủy, bên nầy trông thấy bên kia mà không giao chiến được, vì sông rộng quá làn tên. Trong quân của Bồ Tần có người nội công của Tấn tên là Châu Tự thông tin cùng Tạ Huyền rằng: “Tần quân có đến trăm vạn mà mới tới hơn mười vạn, nên kiếm cách đánh gấp đi, may sẽ thắng được; còn nếu để lâu nó sẽ tới đủ trăm vạn thì không thể nào địch nổi”. Tạ Huyền nhận lời.
Sáng hôm sau có sứ giả bên Tấn qua sông xin cùng Tần vương như vầy: Quân Tần đóng sát sông, quân Tấn ở bên kia, không làm sao giao phong được, cứ ngồi mà ngó nhau, vô vị lắm. Vậy bên Tấn có lời xin bên Tần lùi quân một vài dặm để cho bên Tấn có chỗ đem quân sang đánh nhau hầu quyết thơ hùng.
Trong quân Tần có nhiều người không muốn chấp thuận sự thỉnh cầu ấy; nhưng Bồ Kiên vua Tần, ỷ quân mình đông, phán rằng: “Được, cứ cho đi!” Và hạ lịnh lui quân, nhưng dặn rằng: kịp khi quân Tấn qua sông chưa hết thì quay lại đánh, vì nghĩ rằng đánh cách ấy thế nào cũng chắc thắng.
Nhưng lịnh vừa ra, quân Tần vừa lùi, Châu Tự ở sau quân cũng vừa hô lớn lên rằng: “Tần quân đại bại!” Rồi thì quân Tần đổ, ai nấy đâm đầu chạy, dầu các tướng có chém nhiều người để thị uy cũng không cầm lại được. Giữa mười mấy vạn quân, cái lịnh “lùi một dặm hay hai dặm” trở thành ra lùi hẳn, quân Tần nhơn đó đại bại thật, trong khi quân Tấn vừa sang sông được, đuổi theo chém giết.
Coi đó nữa, thấy Tạ Huyền là đại tướng chỉ ngồi tại hành dinh chỉ huy chứ cũng không ra trận; không nói đến Tạ An, bấy giờ đương ở nhà đánh cờ với khách, lúc mã thượng chạy về báo tiệp mà cũng vẫn cứ đánh cờ.
Còn chiến tướng, bổn phận là phải ở đằng sau đốc thúc quân lính ác chiến. Tuy vậy, họ cũng có khi xông vào bên địch, như người ta nói, “xung phong hãm trận”. Sách ''[[Tam quốc chí]]'', truyện Quan Võ có chép rằng: “Viên Thiệu sai đại tướng Nhan Lương tấn công Bạch Mã. Tào công khiến Trương Liêu cùng Quan Võ làm tiên phong ra địch. Ở giữa trận, Võ thấy hiệu cờ và lọng của Lương, bèn quất ngựa lướt tới đâm chết Lương ở giữa muôn người”. Họa chăng chỉ có trường hợp ấy mới nói được rằng tướng đánh với tướng, nhưng ít lắm.
Làm đại tướng cũng có khi hạ mình đóng vai chiến tướng mà xung phong hãm trận. Một là khi muốn giục lòng quân sĩ để lấy được cuộc tất thắng, như khi vua Quang Trung đánh đồn Ngọc Hồi cho đến lúc vào thành Thăng Long mà áo chiến bào của ngài sém đen cả bởi khói thuốc súng. Một là khi quân thế đã núng lắm, vượt vòng vây mà ra, như khi Hạng Võ tháo trùng vi ở Cai Hạ, chính mình Võ cũng đã đánh giết hàng trăm người của bên địch. Tuy vậy, những lúc đó, ông đại tướng cũng cứ đụng đâu đánh đó, gặp ai giết nấy, chứ không phải đợi cho được ông tướng bên địch mới đánh mới giết, nghĩa là không cứ gì tướng đánh với tướng.
Cái đó thì sau khi đã có súng nạp hậu rồi, trong chiến trường cũng có lắm lúc xảy ra. Như tướng Francis Garnier, trận Cầu Giấy, trước lúc bị hạ, theo nhiều sách chép, cũng đã có bắn chết nhiều người bên Cờ Đen giữa lúc ông đã xuống khỏi ngựa, đi chưn, tay gươm tay súng lục mà đánh giáp lá cà với họ.
Lấy lịch sử làm chứng cứ, tôi đính chánh lại lời ông Đào và nói cho bạn đọc biết rằng cách đánh trận đời xưa chỉ khác đời nay về phần chiến cụ, chứ còn chiến thuật và trạng huống tác chiến cũng giống nhau. Nói tướng đánh với tướng, chỉ là nói theo tiểu thuyết.
{{phải|'''PHAN KHÔI'''}}
}}
{{chú thích cuối trang}}
[[Thể loại:Bài báo]]
fiuju7hhihz1fxv20q9w1kx0y3x7f5l
67546
67545
2019-01-22T10:23:26Z
Tranminh360
1642
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Một ít khảo cứu: Chiến tranh ngày xưa không phải tướng đánh với tướng
| tác giả = Phan Khôi
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1941
| ấn bản = có
| ghi chú = Bài đăng trên ''Dân báo'', Sài Gòn, số 622 (17 Juillet 1941), trang 1, 2; số 624 (19 Juillet 1941), trang 1, 4.
}}
{{văn|
Trong bài mang cái đầu đề “Người phương Đông ngày xưa đánh nhau thế nào?” đăng ở báo ''Trung Bắc chủ nhật''<ref>''Trung Bắc chủ nhật'': ban đầu là ấn phẩm ra ngày chủ nhật của nhật báo ''Trung Bắc tân văn'' (1913-1941), sau khi nhật báo kia đóng cửa, ''Trung Bắc chủ nhật'' trở thành tuần báo độc lập. Số 1 (3/3/1940), số cuối: số 262 (16/9/1945); tòa soạn: 36 Henri D’ Orléan, Hà Nội; Đào Trinh Nhất viết và làm biên tập cho tuần báo này sau khi bị trục xuất từ Sài Gòn ra Bắc (từ tháng 7/1939).</ref> số 63, tác giả ký là Quán Chi. Quán Chi, tôi biết là ông [[Tác gia:Đào Trinh Nhất|Đào Trinh Nhất]]. Vì thấy trong bài ấy có chỗ sai lầm nên tôi lấy tư cách là một người bạn, viết mà đính chánh lại, đồng thời cũng mong đưa độc giả đến sự hiểu đúng, e rằng họ có đọc bài ông Đào mà hiểu sai theo ông ấy chăng.
Ông Đào, trong bài của ông, nói người đời xưa đánh trận bằng xe, đến thuở Tần Hán bỏ xe, bắt chước người Hung Nô đánh trận bằng ngựa. Những chỗ ấy rất đúng, không ai cãi được.
Nhưng ông đã có điều lầm lạc ở những chỗ nầy: Ông nhận cho đời xưa đánh trận là tướng đánh nhau chớ quân không đánh; hay quân dầu có đánh cũng chẳng quan hệ với sự thành bại là mấy. Cho nên ông nói:
“Ông tướng đi trước ba quân và múa long đao nhảy ra giao chiến với viên tướng bên địch. Hễ tướng thắng tức thị quân thắng, tướng thua tức thị quân thua”.
Tiếp đó ông còn nói:
“Một khi nước có chinh chiến, dường như người ta không cần biết quân số ít nhiều mạnh yếu, miễn có một vị quân sư có mưu mô xuất quỷ nhập thần như hạng Trương Lương, [[Tác gia:Gia Cát Lượng|Gia Cát]], năm ba chiến tướng hùng hổ như kiểu Lữ Bỗ, Trương Phi, thế là quốc nhân yên lòng và nhiều hy vọng”.
Hết thảy những điều ông nói đó đều sai cả, không đúng một chút nào với thực trạng chiến tranh cổ thời.
Đến đây phải để cho tôi than thở vài lời. Tôi than thở rằng trong học giới nước ta, lịch sử không cất đầu lên nổi, để cho tiểu thuyết làm gió làm mưa, dầu đến người hữu học như ông Đào cũng còn đặt quan niệm mình theo tiểu thuyết, mà hễ theo tiểu thuyết thì sai cả!
Phải theo lịch sử mà đính chánh lại rằng đời xưa đánh trận không phải chỉ tướng đánh với tướng đâu; từ có các nhà làm tiểu thuyết, cho được tiện sự mô tả, họ phải nói tướng đánh với tướng.
Không những tiểu thuyết, nghề vẽ và nghề hát tuồng cũng bị buộc phải làm như nhà tiểu thuyết.
Bao nhiêu bức vẽ về chiến trận đời xưa, họa sĩ đều trình bày bằng hai viên tướng cỡi ngựa cầm khí giới giao phong với nhau, đằng sau mỗi viên tướng điểm chuyết thêm ít nhiều quân lính.
Hát tuồng cũng vậy. Muốn diễn cuộc chiến tranh trên sân khấu, cũng dùng hai viên tướng, cầm gươm hoặc giáo, ngón tay út đeo con roi giả làm cỡi ngựa mà đối địch cùng nhau; quân lính thì chỉ có vài tên hiệu vác cờ đứng chung quanh “hượi hượi”. Ấy là bởi trên một tờ giấy và trên một sân khấu không có thể dung được số quân hàng vạn, người ta phải vẽ và phải giải bằng cái lối tượng trưng như thế, nó đã tiện mà nó cũng làm nổi bật sự thật lên hơn. Cứ lấy con roi đeo ngón tay đủ là con ngựa mà suy ra, khắc thấy rằng trong cõi tượng trưng, về nghề hát tuồng hay về nghề vẽ cũng thế, có sự bao hàm rất rộng, hình như thế nào cũng được cả.
Người cầm bút viết tiểu thuyết, khi muốn tả một cuộc chiến tranh, cũng không thể không dùng lối tượng trưng ấy. Nếu tả theo sự thực thì nó tán mạn và buồn tẻ nữa. Nhà tiểu thuyết, bởi sự cực chẳng đã và cũng bởi sự khôn ngoan, chỉ tả nội hai viên tướng, làm cho một giả cuộc trở nên có thinh có sắc và rốt lại, sự thắng bại của đôi bên cũng rạch ròi dễ thấy hơn. Không phải là nhà tiểu thuyết không tả được cuộc chiến tranh theo sự thực, nghĩa là chỉ quân đánh thôi, tướng theo sau đốc suất; nhưng làm thế thì mất cái hay của tiểu thuyết đi, đó là cái phần mà người ta để dành cho nhà làm lịch sử vậy.
Theo lịch sử, cuộc chiến tranh đời xưa, về cách đánh cũng chẳng khác đời nay là mấy. Bao giờ cũng toàn thể một đội quân cùng nhau hoạt động trong sự tấn công hay ứng chiến; còn tướng chỉ là kẻ ở cái địa vị chỉ huy và đốc suất.
Ông Đào không nói rõ rằng quân không đánh, nhưng theo hai đoạn dẫn trên đó thì muốn như là quân không đánh; và dầu có đánh cũng chẳng lấy làm quan hệ, mà chỉ quan hệ ở ông tướng.
Quân sao lại không đánh? Không đánh thì dùng quân làm gì? Sự nhiều ít của số quân và sức mạnh hay yếu, người đời xưa cũng kể lắm, sao lại nói được rằng không kể, dầu ông đã biết dè dặt bằng hai chữ hình như?
Đây là những chứng cứ của những điều ấy. Ông Đào đã biết đời xưa người Tàu đánh trận bằng xe, kêu bằng “xa chiến”, thì ông phải biết trong khi xa chiến đó toàn dùng quân lính để công kích bên địch.
Theo phép, mỗi một cỗ nhung xa có bao nhiêu giáp sĩ, chia ngồi hai bên tả và hữu để giao chiến với địch binh. Cho nên ở thiên ''Cam thệ'', thuộc về ''Thương thơ'', lịch sử nhà Thương, khi vua tuyên thệ cùng quân sĩ sắp đi đánh giặc ở đất Cam, có nói rằng: “Ở bên tả mà không đánh bên tả, thế là chúng bay chẳng vâng mạng; ở bên hữu mà không đánh bên hữu, thế là chúng bay chẳng vâng mạng”. Nói “chúng bay” đó là chỉ những người giáp sĩ, rõ ràng quân lính có dự phần tác chiến.
Đời xưa tuy dùng xa chiến mà cũng có bộ binh nữa. Trong thiên ''Thái thệ'', thuộc về ''Châu thơ'', lịch sử nhà Châu, khi Võ Vương đi đánh Trụ cũng có thệ sư mà bảo quân sĩ phải giơ cái giáo lên, dựng cái xà mâu lên, ai nấy không được lỗi và phải rập trong các kỷ luật “bộ” và “phạt”. Bộ tức là từng bước đi, phạt tức là sự đâm chém. Đó là phép tắc đại khái của bộ binh, người lính cũng vẫn dự phần tác chiến như lúc đánh bằng xe vậy.
Cũng trong thiên ''Thái thệ'', Võ Vương nói: “Trụ có bầy tôi ức triệu mà đến ức triệu lòng, còn ta có bầy tôi ba ngàn mà duy một lòng”. Thế thì cũng vẫn kể số quân nhiều hay ít đó chớ; có điều nhiều mà ô hợp thì đành là không kể.
Đánh trận thường cậy ở số quân đông để làm khiếp vía quân địch, cho nên trong ''Sử ký'', khi Hạng Võ đóng ở Hồng Môn, quân chỉ có 50 vạn mà hô lên 100 vạn; Bái Công đóng ở Bái Thượng, quân chỉ có 10 vạn mà cũng hô lên 50 vạn. Đó là cái chứng cứ lấy quân số nhiều ít làm quan hệ.
Sức quân mạnh hay yếu cũng quan hệ như thế. Đời xưa, trong khi lâm trận, người ta thường giấu những lính tráng mạnh mẽ đi mà phơi ra những kẻ già yếu để cho bên địch thấy mà dể ngươi.<ref>Dể ngươi: không cảnh giác, xem thường (''Từ điển phương ngữ Nam Bộ'')</ref> Cái trận đánh nhau ở Bình Thành, Hán Cao tổ thua liểng xiểng bởi quân Hung Nô, cũng vì bị gạt bằng cách ấy. Người đời xưa vẫn kể sức quân mạnh hay yếu, đó là một chứng cứ.
{{ba sao}}
Bài trước đã lấy nhiều chứng cứ để tỏ ra rằng trong một trận chiến tranh đời xưa, cái phần tác chiến là ở quân lính; đến bài nầy lại lấy nhiều chứng cứ khác để thấy rằng tướng không đánh là lệ thường, mà tướng có đánh chỉ là lệ ngoại.
Kêu bằng tướng, ta phải chia ra hai hạng: một hạng đại tướng như Hàn Tín, Nhạc Phi, ở một chỗ mà cầm binh chớ không ra trận, và dầu có ra trận cũng không đánh; và một hạng chiến tướng như Phàn Khoái, Trương Phi, ra trận để đốc thúc quân lính, một đôi khi có đánh.
Ông Đào nói tướng đời xưa bao giờ cũng “đi trước ba quân”; không phải, tướng bao giờ cũng đi sau quân. Vì có đi sau mới đốc thúc được chứ. Có đạo quân kêu bằng “tiền phong”; “tiền” nghĩa là đi trước. Nhưng đó là nói đạo quân ấy đi trước các đạo khác; chứ cứ kể trong đạo ấy thì cũng quân ở trước mà tướng ở sau.
Tôi kể ra đây cái trận “bối thủy” của Hàn Tín là trận có tiếng trong lịch sử.
Bấy giờ Hàn Tín vâng mạng Hán vương đi đánh nước Triệu. Nước Triệu có một thành đóng ở nơi một phía gần sông, một phía gần núi, trong thành có tướng sĩ giữ vững lắm. Hàn Tín muốn chiếm lấy thành ấy, bèn lập kế tấn công.
Sáng sớm hôm ấy, Tín sai một vạn người đi ra giàn trận ở bờ sông, quay lưng với nước (vì vậy gọi là “bối thủy”). Lại sai vài ngàn người đi phục ở một nơi và dặn: “Khi nào thấy quân Triệu ra khỏi thành thì ào vào thành, nhổ bỏ cờ xí của Triệu mà cắm cờ xí của Hán lên”. Còn chính Hàn Tín là đại tướng lúc đó làm gì, ở đâu, trong sách không nói đến.
Tướng sĩ Triệu đóng trong thành, thấy quân Hán giàn trận ở bờ sông để công kích mình thì cho là bên địch tự chiếm lấy thế tử, còn mình được thế sanh, bèn kéo cả thành ra và khởi thế công trước. Trong ý họ nghĩ rằng đánh rắp như vậy, một vạn người kia sẽ không có đường chạy mà đâm đầu xuống nước cả. Không ngờ bọn này liều chết cố cự lại, quân Triệu làm gì không xuể, rủ nhau chạy trở về trong thành thì thấy đầy cả cờ xí của Hán rồi, đều cả kinh. Trong khi ấy thì Hàn Tín dóng trống mở cờ đại tướng mà đi tới từ phía núi, kéo thẳng vào thành. Quân Triệu phải bó tay xin hàng cả.
Coi đó thì biết trong trận ấy Hàn Tín làm đại tướng, chỉ có lập mưu thủ thắng mà thôi, chứ không hề ra trận và tác chiến.
Kể một trận nữa là trận Phí Thủy, quân Tấn đánh với quân Bồ Tần. Bên Bồ Tần, Tần vương Kiên kéo đến một trăm vạn quân; còn bên Tấn chỉ có 8 vạn, Tạ Huyền làm đại tướng, đóng hành dinh ở một nơi, nhưng còn phải chịu tiết chế của Tạ An là chú, làm thủ tướng ở triều.
Khi quân hai bên giàn ra trên hai bờ sông gọi là Phí Thủy, bên nầy trông thấy bên kia mà không giao chiến được, vì sông rộng quá làn tên. Trong quân của Bồ Tần có người nội công của Tấn tên là Châu Tự thông tin cùng Tạ Huyền rằng: “Tần quân có đến trăm vạn mà mới tới hơn mười vạn, nên kiếm cách đánh gấp đi, may sẽ thắng được; còn nếu để lâu nó sẽ tới đủ trăm vạn thì không thể nào địch nổi”. Tạ Huyền nhận lời.
Sáng hôm sau có sứ giả bên Tấn qua sông xin cùng Tần vương như vầy: Quân Tần đóng sát sông, quân Tấn ở bên kia, không làm sao giao phong được, cứ ngồi mà ngó nhau, vô vị lắm. Vậy bên Tấn có lời xin bên Tần lùi quân một vài dặm để cho bên Tấn có chỗ đem quân sang đánh nhau hầu quyết thơ hùng.
Trong quân Tần có nhiều người không muốn chấp thuận sự thỉnh cầu ấy; nhưng Bồ Kiên vua Tần, ỷ quân mình đông, phán rằng: “Được, cứ cho đi!” Và hạ lịnh lui quân, nhưng dặn rằng: kịp khi quân Tấn qua sông chưa hết thì quay lại đánh, vì nghĩ rằng đánh cách ấy thế nào cũng chắc thắng.
Nhưng lịnh vừa ra, quân Tần vừa lùi, Châu Tự ở sau quân cũng vừa hô lớn lên rằng: “Tần quân đại bại!” Rồi thì quân Tần đổ, ai nấy đâm đầu chạy, dầu các tướng có chém nhiều người để thị uy cũng không cầm lại được. Giữa mười mấy vạn quân, cái lịnh “lùi một dặm hay hai dặm” trở thành ra lùi hẳn, quân Tần nhơn đó đại bại thật, trong khi quân Tấn vừa sang sông được, đuổi theo chém giết.
Coi đó nữa, thấy Tạ Huyền là đại tướng chỉ ngồi tại hành dinh chỉ huy chứ cũng không ra trận; không nói đến Tạ An, bấy giờ đương ở nhà đánh cờ với khách, lúc mã thượng chạy về báo tiệp mà cũng vẫn cứ đánh cờ.
Còn chiến tướng, bổn phận là phải ở đằng sau đốc thúc quân lính ác chiến. Tuy vậy, họ cũng có khi xông vào bên địch, như người ta nói, “xung phong hãm trận”. Sách ''[[Tam quốc chí]]'', truyện Quan Võ có chép rằng: “Viên Thiệu sai đại tướng Nhan Lương tấn công Bạch Mã. Tào công khiến Trương Liêu cùng Quan Võ làm tiên phong ra địch. Ở giữa trận, Võ thấy hiệu cờ và lọng của Lương, bèn quất ngựa lướt tới đâm chết Lương ở giữa muôn người”. Họa chăng chỉ có trường hợp ấy mới nói được rằng tướng đánh với tướng, nhưng ít lắm.
Làm đại tướng cũng có khi hạ mình đóng vai chiến tướng mà xung phong hãm trận. Một là khi muốn giục lòng quân sĩ để lấy được cuộc tất thắng, như khi vua Quang Trung đánh đồn Ngọc Hồi cho đến lúc vào thành Thăng Long mà áo chiến bào của ngài sém đen cả bởi khói thuốc súng. Một là khi quân thế đã núng lắm, vượt vòng vây mà ra, như khi Hạng Võ tháo trùng vi ở Cai Hạ, chính mình Võ cũng đã đánh giết hàng trăm người của bên địch. Tuy vậy, những lúc đó, ông đại tướng cũng cứ đụng đâu đánh đó, gặp ai giết nấy, chứ không phải đợi cho được ông tướng bên địch mới đánh mới giết, nghĩa là không cứ gì tướng đánh với tướng.
Cái đó thì sau khi đã có súng nạp hậu rồi, trong chiến trường cũng có lắm lúc xảy ra. Như tướng Francis Garnier, trận Cầu Giấy, trước lúc bị hạ, theo nhiều sách chép, cũng đã có bắn chết nhiều người bên Cờ Đen giữa lúc ông đã xuống khỏi ngựa, đi chưn, tay gươm tay súng lục mà đánh giáp lá cà với họ.
Lấy lịch sử làm chứng cứ, tôi đính chánh lại lời ông Đào và nói cho bạn đọc biết rằng cách đánh trận đời xưa chỉ khác đời nay về phần chiến cụ, chứ còn chiến thuật và trạng huống tác chiến cũng giống nhau. Nói tướng đánh với tướng, chỉ là nói theo tiểu thuyết.
{{phải|'''PHAN KHÔI'''}}
}}
{{chú thích cuối trang}}
[[Thể loại:Bài báo]]
nqtgk287dx2wppb35bef2vusvnowa54
Báo Tiếng dân nói sai, tôi không hề công kích thơ mới
0
24071
67547
2019-01-22T10:42:33Z
Tranminh360
1642
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = Báo Tiếng dân nói sai, tôi không hề công kích thơ mới | tác giả = Phan Khôi | dịch giả = | ph…”
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Báo Tiếng dân nói sai, tôi không hề công kích thơ mới
| tác giả = Phan Khôi
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1941
| ấn bản = có
| ghi chú = Bài đăng trên ''Dân báo'', Sài Gòn, số 627 (23 Juillet 1941), trang 1, 3.
}}
{{văn|
Báo ''Tiếng dân''<ref>''Tiếng dân'': nhật báo, ra ngày thứ tư và thứ bảy, số 1 ra ngày 10/8/1927, số cuối cùng ra ngày 24/4/1943; tòa soạn: phố Đông Ba, Huế; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Huỳnh Thúc Kháng.</ref> gần đây có hai bài trong hai số tiếp nhau tuyên bố lên rằng ông Phan Khôi, là tôi, đã bắt đầu công kích lối thơ mới. Tôi thấy mà rất lấy làm ngạc nhiên. Tôi không hề có khi nào phản đối lối thơ mới cả, cũng chưa từng bắt đầu nghĩ đến việc ấy, sao người ta lại hô lên như vậy?
Tôi là người [[Một lối "thơ mới" trình chánh giữa làng thơ|đề xướng ra thơ mới]], vì bài ''[[Tình già]]'' của tôi ra đầu hết; nếu lui một bước, tôi không chịu nhận lấy cái danh người đề xướng thì ít nữa tôi cũng là một người trong những người đề xướng thơ mới, há có lẽ nào mới giáp mười năm mà tôi đã quay lại nó mà phản đối hay sao?
Sợ cho anh em trong làng thơ mới không rõ đầu đuôi, tin lời báo ''Tiếng dân'' rồi chưởi tôi là thằng phản phúc, nên cực chẳng đã tôi phải viết bài nầy đính chánh, − đáng thương hại cho ngòi bút của tôi cứ luôn luôn là đính chánh.
Trong số 1594 báo ''Tiếng dân'' viết rằng: “Ông Phan Khôi trước có hùa vui viết thơ mới một đôi bài … nay thấy trong làng thơ mới của bọn trẻ có lắm bài vô nghĩa, trong ''Dân báo'' ông Thông Reo (hiệu ông Phan Khôi) có bài dưới mục “Chuyện hằng ngày” (số ra ngày 25/6/1941) cho thơ mới là một cái tai nạn của văn học, xem đó đủ thấy giá trị thơ mới ngày nay là thế nào”.
Đoạn đó ở trong “Lời nói đầu” của ''Việt ngâm thi thoại'' đăng ở số báo nói trên, dưới ký là Minh Viên.<ref>Minh Viên là tên hiệu đồng thời là một trong số các bút danh của tác gia [[Tác gia:Huỳnh Thúc Kháng|Huỳnh Thúc Kháng]] (1876-1947)</ref>
Tiếp số sau, 1595, ra ngày 12/7/1941, nơi mục “Chuyện đời”, Chuông Mai viết: “Nhà túc học và tay đàn anh trong làng báo là ông Thông Reo (tức Phan Khôi) trước kia giữa phong triều thơ mới, nhớ như ông có viết một bài về cái đề “[[Hai cảnh trên xe hỏa|mua sò trên xe lửa]]” … Nhưng<ref>Đoạn nầy vì tôi có bỏ bớt nguyên văn nên có thêm một vài chữ cho chạy ý, như chữ “nhưng” này (nguyên chú của Phan Khôi)</ref> mới đây ông kinh hoảng mà la lớn: “Một tai nạn trong văn học” (bài nầy trong ''Dân báo'' ra ngày 25/6/1941) trong bài nầy ông chỉ vạch những câu vô nghĩa trong thơ mới rất là rành rẽ. Xem đó đủ thấy trưng triệu đổ sụp của thơ mới. Chuông Mai rất biểu đồng tình với … bạn Thông Reo mà hô lớn rằng: Xứ ta còn sản xuất thứ thơ mới là một điều vô phúc cho làng văn nước nhà”.
Xem đó, bạn đọc thấy ''Tiếng dân'' nói rõ ràng rằng tôi cho thơ mới là một tai nạn của văn học và Chuông Mai tỏ ý muốn cùng tôi đánh đổ thơ mới. Mà nói như thế, báo ''Tiếng dân'' lấy chứng cứ ở đâu? Chỉ lấy ở bài đăng dưới “Chuyện hằng ngày” trong ''Dân báo'' của Thông Reo.
Thông Reo, báo ''Tiếng dân'' nói là hiệu của tôi, điều đó rất là vô lý, tôi không nhận. Tuy vậy, cho đi rằng Thông Reo tức là Phan Khôi nữa, thì cũng nên xem lại thử bài ấy Thông Reo nói những gì.
Nguyên văn bài ấy ra ngày 25/6/1941 dưới mục “Chuyện hằng ngày” trong ''Dân báo'' là như vầy:
{{g|MỘT TAI NẠN CỦA VĂN HỌC
''(đó là cái đề)''}}
Nền văn học Việt Nam mới gầy dựng lên vài chục năm nay, đến nay bỗng dưng gặp một tai nạn lớn. ''(lược và đoạn không quan hệ)'' Cái tai nạn gì thế? Chẳng có gì lạ, chỉ là viết văn không nghĩa. ''(lại lược một câu)''
Phàm văn, khoan cầu hay đã, trước phải cầu cho có nghĩa. Phải có nghĩa đã, rồi sau mới nói đến hay hay dở.
Nhưng hiện nay có một hạng văn sĩ, hình như họ chỉ cầu cho hay, còn có nghĩa hay không, họ không cần. Bởi vậy thường có những câu vô nghĩa trong văn họ mà có lẽ họ gọi là hay đó.
Một tập thơ xuất bản đã lâu, nhan là ''[[Tinh huyết]]'', tác giả là [[Tác gia:Bích Khê|Bích Khê]], mà đến ngày nay tôi mới đem ra chỉ trích cũng hơi muộn. ''(lại lược một câu)''
Một bài đề là ''[[Hoàng hoa]]'' trong có những câu như vầy:
<poem>
<i>Lam nhung ô! Màu lưng chừng trời,
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi.
Vàng phai nằm im ôm non gầy,
Chim yên eo mình nương xương cây.</i>
</poem>
“Lam nhung” là gì? “Xanh nhung” là gì? “Chim yên” là gì? “Xương cây” là gì? Chẳng có nghĩa gì cả. ''(lược bỏ nhiều câu ở dưới vì đều thế cả)''
Không hơi đâu mà kể cho hết cái vô nghĩa của họ … Họ điên chăng? Nếu thế, chỉ có người điên mới hiểu mà thôi.
Coi như trên đó, Thông Reo có hề công kích thơ mới không? Nếu Thông Reo có công kích thơ mới thì tôi cũng xin nhận là tôi − Phan Khôi − có công kích thơ mới.
Không hề! Thật là không hề! Thông Reo chỉ công kích sự viết văn vô nghĩa mà thôi, chứ có hề công kích thơ mới đâu?
Nguyên văn, Thông Reo nói: “Cái tai nạn gì thế? Chẳng có gì lạ, chỉ là viết văn không có nghĩa”.
Thông Reo nhận cho sự viết văn không có nghĩa là một tai nạn của văn học.
Thế mà đến báo ''Tiếng dân'', báo ấy nói rằng: “Ông Thông Reo (hiệu ông Phan Khôi) cho thơ mới là cái tai nạn của văn học”!
Thế là ''Tiếng dân'' nói sai. Tôi xin cải chánh.
{{phải|'''PHAN KHÔI'''}}
}}
{{chú thích cuối trang}}
[[Thể loại:Bài báo]]
ld023qo2w6jsilwpio1gy0pw6aiukzw
67548
67547
2019-01-22T10:44:45Z
Tranminh360
1642
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Báo Tiếng dân nói sai, tôi không hề công kích thơ mới
| tác giả = Phan Khôi
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1941
| ấn bản = có
| ghi chú = Bài đăng trên ''Dân báo'', Sài Gòn, số 627 (23 Juillet 1941), trang 1, 3.
}}
{{văn|
Báo ''Tiếng dân''<ref>''Tiếng dân'': nhật báo, ra ngày thứ tư và thứ bảy, số 1 ra ngày 10/8/1927, số cuối cùng ra ngày 24/4/1943; tòa soạn: phố Đông Ba, Huế; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Huỳnh Thúc Kháng.</ref> gần đây có hai bài trong hai số tiếp nhau tuyên bố lên rằng ông Phan Khôi, là tôi, đã bắt đầu công kích lối thơ mới. Tôi thấy mà rất lấy làm ngạc nhiên. Tôi không hề có khi nào phản đối lối thơ mới cả, cũng chưa từng bắt đầu nghĩ đến việc ấy, sao người ta lại hô lên như vậy?
Tôi là người [[Một lối "thơ mới" trình chánh giữa làng thơ|đề xướng ra thơ mới]], vì bài ''[[Tình già]]'' của tôi ra đầu hết; nếu lui một bước, tôi không chịu nhận lấy cái danh người đề xướng thì ít nữa tôi cũng là một người trong những người đề xướng thơ mới, há có lẽ nào mới giáp mười năm mà tôi đã quay lại nó mà phản đối hay sao?
Sợ cho anh em trong làng thơ mới không rõ đầu đuôi, tin lời báo ''Tiếng dân'' rồi chưởi tôi là thằng phản phúc, nên cực chẳng đã tôi phải viết bài nầy đính chánh, − đáng thương hại cho ngòi bút của tôi cứ luôn luôn là đính chánh.
Trong số 1594 báo ''Tiếng dân'' viết rằng: “Ông Phan Khôi trước có hùa vui viết thơ mới một đôi bài … nay thấy trong làng thơ mới của bọn trẻ có lắm bài vô nghĩa, trong ''Dân báo'' ông Thông Reo (hiệu ông Phan Khôi) có bài dưới mục “Chuyện hằng ngày” (số ra ngày 25/6/1941) cho thơ mới là một cái tai nạn của văn học, xem đó đủ thấy giá trị thơ mới ngày nay là thế nào”.
Đoạn đó ở trong “Lời nói đầu” của ''Việt ngâm thi thoại'' đăng ở số báo nói trên, dưới ký là Minh Viên.<ref>Minh Viên là tên hiệu đồng thời là một trong số các bút danh của tác gia [[Tác gia:Huỳnh Thúc Kháng|Huỳnh Thúc Kháng]] (1876-1947)</ref>
Tiếp số sau, 1595, ra ngày 12/7/1941, nơi mục “Chuyện đời”, Chuông Mai viết: “Nhà túc học và tay đàn anh trong làng báo là ông Thông Reo (tức Phan Khôi) trước kia giữa phong triều thơ mới, nhớ như ông có viết một bài về cái đề “[[Hai cảnh trên xe hỏa|mua sò trên xe lửa]]” … Nhưng<ref>Đoạn nầy vì tôi có bỏ bớt nguyên văn nên có thêm một vài chữ cho chạy ý, như chữ “nhưng” này (nguyên chú của Phan Khôi)</ref> mới đây ông kinh hoảng mà la lớn: “Một tai nạn trong văn học” (bài nầy trong ''Dân báo'' ra ngày 25/6/1941) trong bài nầy ông chỉ vạch những câu vô nghĩa trong thơ mới rất là rành rẽ. Xem đó đủ thấy trưng triệu đổ sụp của thơ mới. Chuông Mai rất biểu đồng tình với … bạn Thông Reo mà hô lớn rằng: Xứ ta còn sản xuất thứ thơ mới là một điều vô phúc cho làng văn nước nhà”.
Xem đó, bạn đọc thấy ''Tiếng dân'' nói rõ ràng rằng tôi cho thơ mới là một tai nạn của văn học và Chuông Mai tỏ ý muốn cùng tôi đánh đổ thơ mới. Mà nói như thế, báo ''Tiếng dân'' lấy chứng cứ ở đâu? Chỉ lấy ở bài đăng dưới “Chuyện hằng ngày” trong ''Dân báo'' của Thông Reo.
Thông Reo, báo ''Tiếng dân'' nói là hiệu của tôi, điều đó rất là vô lý, tôi không nhận. Tuy vậy, cho đi rằng Thông Reo tức là Phan Khôi nữa, thì cũng nên xem lại thử bài ấy Thông Reo nói những gì.
Nguyên văn bài ấy ra ngày 25/6/1941 dưới mục “Chuyện hằng ngày” trong ''Dân báo'' là như vầy:
{{g|MỘT TAI NẠN CỦA VĂN HỌC
''(đó là cái đề)''}}
Nền văn học Việt Nam mới gầy dựng lên vài chục năm nay, đến nay bỗng dưng gặp một tai nạn lớn. ''(lược và đoạn không quan hệ)'' Cái tai nạn gì thế? Chẳng có gì lạ, chỉ là viết văn không nghĩa. ''(lại lược một câu)''
Phàm văn, khoan cầu hay đã, trước phải cầu cho có nghĩa. Phải có nghĩa đã, rồi sau mới nói đến hay hay dở.
Nhưng hiện nay có một hạng văn sĩ, hình như họ chỉ cầu cho hay, còn có nghĩa hay không, họ không cần. Bởi vậy thường có những câu vô nghĩa trong văn họ mà có lẽ họ gọi là hay đó.
Một tập thơ xuất bản đã lâu, nhan là ''[[Tinh huyết]]'', tác giả là [[Tác gia:Bích Khê|Bích Khê]], mà đến ngày nay tôi mới đem ra chỉ trích cũng hơi muộn. ''(lại lược một câu)''
Một bài đề là ''[[Hoàng hoa]]'' trong có những câu như vầy:
<poem>
<i>Lam nhung ô! Màu lưng chừng trời,
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi.
Vàng phai nằm im ôm non gầy,
Chim yên eo mình nương xương cây.</i>
</poem>
“Lam nhung” là gì? “Xanh nhung” là gì? “Chim yên” là gì? “Xương cây” là gì? Chẳng có nghĩa gì cả. ''(lược bỏ nhiều câu ở dưới vì đều thế cả)''
Không hơi đâu mà kể cho hết cái vô nghĩa của họ … Họ điên chăng? Nếu thế, chỉ có người điên mới hiểu mà thôi.
Coi như trên đó, Thông Reo có hề công kích thơ mới không? Nếu Thông Reo có công kích thơ mới thì tôi cũng xin nhận là tôi − Phan Khôi − có công kích thơ mới.
Không hề! Thật là không hề! Thông Reo chỉ công kích sự viết văn vô nghĩa mà thôi, chứ có hề công kích thơ mới đâu?
Nguyên văn, Thông Reo nói: “Cái tai nạn gì thế? Chẳng có gì lạ, chỉ là viết văn không có nghĩa”.
Thông Reo nhận cho sự viết văn không có nghĩa là một tai nạn của văn học.
Thế mà đến báo ''Tiếng dân'', báo ấy nói rằng: “Ông Thông Reo (hiệu ông Phan Khôi) cho thơ mới là cái tai nạn của văn học”!
Thế là ''Tiếng dân'' nói sai. Tôi xin cải chánh.
{{phải|'''PHAN KHÔI'''}}
}}
{{chú thích cuối trang}}
[[Thể loại:Bài báo]]
s5sd4tpvcxp2ewibmk2ekxbbr2j0syb
67550
67548
2019-01-22T11:00:50Z
Tranminh360
1642
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Báo ''Tiếng dân'' nói sai, tôi không hề công kích thơ mới
| tác giả = Phan Khôi
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1941
| ấn bản = có
| ghi chú = Bài đăng trên ''Dân báo'', Sài Gòn, số 627 (23 Juillet 1941), trang 1, 3.
}}
{{văn|
Báo ''Tiếng dân''<ref>''Tiếng dân'': nhật báo, ra ngày thứ tư và thứ bảy, số 1 ra ngày 10/8/1927, số cuối cùng ra ngày 24/4/1943; tòa soạn: phố Đông Ba, Huế; chủ nhiệm kiêm chủ bút: Huỳnh Thúc Kháng.</ref> gần đây có hai bài trong hai số tiếp nhau tuyên bố lên rằng ông Phan Khôi, là tôi, đã bắt đầu công kích lối thơ mới. Tôi thấy mà rất lấy làm ngạc nhiên. Tôi không hề có khi nào phản đối lối thơ mới cả, cũng chưa từng bắt đầu nghĩ đến việc ấy, sao người ta lại hô lên như vậy?
Tôi là người [[Một lối "thơ mới" trình chánh giữa làng thơ|đề xướng ra thơ mới]], vì bài ''[[Tình già]]'' của tôi ra đầu hết; nếu lui một bước, tôi không chịu nhận lấy cái danh người đề xướng thì ít nữa tôi cũng là một người trong những người đề xướng thơ mới, há có lẽ nào mới giáp mười năm mà tôi đã quay lại nó mà phản đối hay sao?
Sợ cho anh em trong làng thơ mới không rõ đầu đuôi, tin lời báo ''Tiếng dân'' rồi chưởi tôi là thằng phản phúc, nên cực chẳng đã tôi phải viết bài nầy đính chánh, − đáng thương hại cho ngòi bút của tôi cứ luôn luôn là đính chánh.
Trong số 1594 báo ''Tiếng dân'' viết rằng: “Ông Phan Khôi trước có hùa vui viết thơ mới một đôi bài … nay thấy trong làng thơ mới của bọn trẻ có lắm bài vô nghĩa, trong ''Dân báo'' ông Thông Reo (hiệu ông Phan Khôi) có bài dưới mục “Chuyện hằng ngày” (số ra ngày 25/6/1941) cho thơ mới là một cái tai nạn của văn học, xem đó đủ thấy giá trị thơ mới ngày nay là thế nào”.
Đoạn đó ở trong “Lời nói đầu” của ''Việt ngâm thi thoại'' đăng ở số báo nói trên, dưới ký là Minh Viên.<ref>Minh Viên là tên hiệu đồng thời là một trong số các bút danh của tác gia [[Tác gia:Huỳnh Thúc Kháng|Huỳnh Thúc Kháng]] (1876-1947)</ref>
Tiếp số sau, 1595, ra ngày 12/7/1941, nơi mục “Chuyện đời”, Chuông Mai viết: “Nhà túc học và tay đàn anh trong làng báo là ông Thông Reo (tức Phan Khôi) trước kia giữa phong triều thơ mới, nhớ như ông có viết một bài về cái đề “[[Hai cảnh trên xe hỏa|mua sò trên xe lửa]]” … Nhưng<ref>Đoạn nầy vì tôi có bỏ bớt nguyên văn nên có thêm một vài chữ cho chạy ý, như chữ “nhưng” này (nguyên chú của Phan Khôi)</ref> mới đây ông kinh hoảng mà la lớn: “Một tai nạn trong văn học” (bài nầy trong ''Dân báo'' ra ngày 25/6/1941) trong bài nầy ông chỉ vạch những câu vô nghĩa trong thơ mới rất là rành rẽ. Xem đó đủ thấy trưng triệu đổ sụp của thơ mới. Chuông Mai rất biểu đồng tình với … bạn Thông Reo mà hô lớn rằng: Xứ ta còn sản xuất thứ thơ mới là một điều vô phúc cho làng văn nước nhà”.
Xem đó, bạn đọc thấy ''Tiếng dân'' nói rõ ràng rằng tôi cho thơ mới là một tai nạn của văn học và Chuông Mai tỏ ý muốn cùng tôi đánh đổ thơ mới. Mà nói như thế, báo ''Tiếng dân'' lấy chứng cứ ở đâu? Chỉ lấy ở bài đăng dưới “Chuyện hằng ngày” trong ''Dân báo'' của Thông Reo.
Thông Reo, báo ''Tiếng dân'' nói là hiệu của tôi, điều đó rất là vô lý, tôi không nhận. Tuy vậy, cho đi rằng Thông Reo tức là Phan Khôi nữa, thì cũng nên xem lại thử bài ấy Thông Reo nói những gì.
Nguyên văn bài ấy ra ngày 25/6/1941 dưới mục “Chuyện hằng ngày” trong ''Dân báo'' là như vầy:
{{g|MỘT TAI NẠN CỦA VĂN HỌC
''(đó là cái đề)''}}
Nền văn học Việt Nam mới gầy dựng lên vài chục năm nay, đến nay bỗng dưng gặp một tai nạn lớn. ''(lược và đoạn không quan hệ)'' Cái tai nạn gì thế? Chẳng có gì lạ, chỉ là viết văn không nghĩa. ''(lại lược một câu)''
Phàm văn, khoan cầu hay đã, trước phải cầu cho có nghĩa. Phải có nghĩa đã, rồi sau mới nói đến hay hay dở.
Nhưng hiện nay có một hạng văn sĩ, hình như họ chỉ cầu cho hay, còn có nghĩa hay không, họ không cần. Bởi vậy thường có những câu vô nghĩa trong văn họ mà có lẽ họ gọi là hay đó.
Một tập thơ xuất bản đã lâu, nhan là ''[[Tinh huyết]]'', tác giả là [[Tác gia:Bích Khê|Bích Khê]], mà đến ngày nay tôi mới đem ra chỉ trích cũng hơi muộn. ''(lại lược một câu)''
Một bài đề là ''[[Hoàng hoa]]'' trong có những câu như vầy:
<poem>
<i>Lam nhung ô! Màu lưng chừng trời,
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi.
Vàng phai nằm im ôm non gầy,
Chim yên eo mình nương xương cây.</i>
</poem>
“Lam nhung” là gì? “Xanh nhung” là gì? “Chim yên” là gì? “Xương cây” là gì? Chẳng có nghĩa gì cả. ''(lược bỏ nhiều câu ở dưới vì đều thế cả)''
Không hơi đâu mà kể cho hết cái vô nghĩa của họ … Họ điên chăng? Nếu thế, chỉ có người điên mới hiểu mà thôi.
Coi như trên đó, Thông Reo có hề công kích thơ mới không? Nếu Thông Reo có công kích thơ mới thì tôi cũng xin nhận là tôi − Phan Khôi − có công kích thơ mới.
Không hề! Thật là không hề! Thông Reo chỉ công kích sự viết văn vô nghĩa mà thôi, chứ có hề công kích thơ mới đâu?
Nguyên văn, Thông Reo nói: “Cái tai nạn gì thế? Chẳng có gì lạ, chỉ là viết văn không có nghĩa”.
Thông Reo nhận cho sự viết văn không có nghĩa là một tai nạn của văn học.
Thế mà đến báo ''Tiếng dân'', báo ấy nói rằng: “Ông Thông Reo (hiệu ông Phan Khôi) cho thơ mới là cái tai nạn của văn học”!
Thế là ''Tiếng dân'' nói sai. Tôi xin cải chánh.
{{phải|'''PHAN KHÔI'''}}
}}
{{chú thích cuối trang}}
[[Thể loại:Bài báo]]
dqtykxxma8j7f911dn65m17je6g1273
Sau khi đính chánh báo Tiếng dân: Ý kiến tôi đối với thơ mới
0
24072
67549
2019-01-22T11:00:04Z
Tranminh360
1642
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = Sau khi đính chánh báo ''Tiếng dân'': Ý kiến tôi đối với thơ mới | tác giả = Phan Khôi | dịch…”
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Sau khi đính chánh báo ''Tiếng dân'': Ý kiến tôi đối với thơ mới
| tác giả = Phan Khôi
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1941
| ấn bản = có
| ghi chú = Bài đăng trên ''Dân báo'', Sài Gòn, số 628 (24 Juillet 1941), trang 1, 2.
}}
{{văn|
Cũng trong ngày cho đăng [[Báo Tiếng dân nói sai, tôi không hề công kích thơ mới|bài đính chánh mấy lời sai lầm của báo ''Tiếng dân'']] ở một số trước, tôi có nhận được thơ của người bạn ở Huế, ông Nguyễn Đức Nguyên, bút tự Hoài Thanh, gởi mua một năm ''Dân báo'' mà dặn rằng phải bắt đầu gởi cho ông ấy từ số nào có bài bàn về thơ mới.
Việc riêng của giữa hai người với nhau, xin lỗi ông Hoài Thanh cùng bạn đọc nữa, tôi đem nói vào đây là vì chính nó có sự quan hệ: Bởi báo ''Tiếng dân'' nói sai nên ông Hoài Thanh mới có chỗ hiểu lầm.
Trong ''Dân báo'' lâu nay, ở dưới tên ký của người nào cũng chẳng hề có bài nào luận về thơ mới cả. Thế thì sao ông Hoài Thanh lại bảo bắt gởi từ số có đăng bài ấy?
Tôi chắc rằng bởi ông ấy thấy hai bài trong báo ''Tiếng dân'' mà tôi đã nói đến trong số trước, rồi tưởng rằng gần nay trên ''Dân báo'' chắc thế nào tôi cũng có bài phản đối hay công kích thơ mới, cho nên ''Tiếng dân'' mới cứ theo mà thuật lại. Thế rồi, theo ông Hoài Thanh nghĩ, tôi từ trước là người có chưn trong làng thơ mới, sao nay lại trở mặt toan “bỏ làng”? Nghĩ thế rồi ông nhứt định đòi cho được số báo ấy để xem thử cái luận điệu của tôi ra sao.
Hôm nay, đọc bài đính chánh của tôi đã ra trước và bài nầy, ông Hoài Thanh, cùng hết thảy bạn đọc nữa, đều hiểu rằng tôi chưa hề công kích hay phản đối thơ mới; tôi chỉ công kích sự viết văn không có nghĩa mà báo ''Tiếng dân'' nói sai đi. Tôi nói sự viết văn vô nghĩa là cái tai nạn của văn học mà ''Tiếng dân'' lại thuật lộn rằng ông Phan Khôi nói thơ mới là cái tai nạn của văn học!
Chỉ có vậy mà sanh chuyện!
Vả tôi chỉ trích những câu vô nghĩa trong tập ''[[Tinh huyết]]'' của [[Tác gia:Bích Khê|Bích Khê]]; tập ''Tinh huyết'' dầu có là thơ mới đi nữa, báo ''Tiếng dân'' cũng không được phép cứ theo đó mà nói rằng tôi công kích thơ mới. Cái lẽ ấy cực kỳ dễ hiểu. Cũng như khi cụ [[Tác gia:Huỳnh Thúc Kháng|Huỳnh Thúc Kháng]] nếu có chỉ trích những câu vô nghĩa trong một bổn tiểu thuyết nào, tôi há có thể vin theo đó mà nói cụ công kích lối văn tiểu thuyết hay sao?
“Thơ mới là cái tai nạn của văn học” − báo ''Tiếng dân'' nói ông Phan Khôi nói như thế, − tôi đọc tới mà ngẩn người ra, vì tôi không hề nói như thế, tôi không hề phản đối hay công kích thơ mới.
Vậy thì ý kiến tôi đối với thơ mới như thế nào, luôn tiện tôi cũng nên bày tỏ ra ở đây.
Chữ “mới” trong cái danh từ “thơ mới”, có người cho là lạm, không xứng đáng, vì nó không phải mới gì, nó lấy nguồn ở thơ cổ phong hay từ khúc mà ra. Dầu vậy, cái danh từ ấy cũng thành lập được. Vì cái thể thơ như của Thế Lữ, Xuân Diệu, xưa nay chưa có ai làm nhiều, mà bây giờ có, thế là chúng ta nhận cho nó thành một thể được rồi.
Thể thơ ấy phần nhiều dùng tám chữ làm một câu. Hoặc giả sau nầy không gọi là “thơ mới” nữa mà gọi là “thơ bát ngôn”, như ngũ ngôn, thất ngôn đã có rồi, cũng chẳng có gì trái với nguyên lý của văn học cả, cũng chẳng có gì làm hại, kêu bằng tai nạn cho văn học cả. Thế thì việc gì mà người ta yểm ố nó, cự tuyệt nó cho đành? Ai công kích thơ mới, tôi dám bảo người ấy chỉ tỏ mình ra là hẹp lượng và thiếu sự thấy xa biết suốt.
“Ông cứ việc mà đánh đổ thơ mới đi, rồi sau nầy thơ mới nó cũng cứ đứng vững và phát đạt như thường” − Câu nói ấy bất luận ra từ miệng người nào, sau đây vài ba mươi năm, nó sẽ được truyền tụng như câu của một nhà thiên văn học ngày xưa: “Mặc dầu các ông phản đối cái thuyết địa viên, trái đất cũng cứ việc quay và quay chung quanh mặt trời!”
Chắc lắm, không hồ nghi gì nữa, cái lẽ nó phải như thế. Sau tứ ngôn, ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát gián thất, thêm một thể nữa gọi là “bát ngôn” làm giàu thêm cho văn học Việt Nam mà không trật ra ngoài con đường rầy tiến hoá, thì là sự chúng ta nên hoan nghinh, chứ lại điên gì mà yểm ố và cự tuyệt?
Lý thuyết thì như thế, mà cứ xem hiện trạng thì chính tôi cũng nhận thấy vài ba năm nay thơ mới đã ra nhiều và nhảm lắm.
Cái nhảm đó là do vài bốn kẻ tuổi trẻ, kém học thức mà lại tưởng mình có thiên tài, rồi cứ thuận mồm ngâm vịnh bừa đi. Một vài kẻ có những ý tứ lời lẽ quá nông nổi và non nớt như những bài đăng trên các báo về mục “Vườn thơ”; một và kẻ cố ý đặt cho mắc mỏ, tưởng thế là hay, chẳng dè thành ra vô nghĩa, như tập ''[[Tinh huyết]]'' đó. Đã thế rồi còn có một vài kẻ tự coi mình là đàn anh, như ông [[Tác gia:Hàn Mặc Tử|Hàn Mặc Tử]], theo mà tưng bốc, − chính ông ấy đã tưng bốc tập ''Tinh huyết'', là thứ thơ không có nghĩa, lên chín từng mây! Như thế bảo thơ mới còn biết kiêng nể ai mà không đâm ra nhảm?
Ấy thế mà đừng lo. “Sông có khúc, người có lúc” thì văn học hay là thơ cũng có thời kỳ của nó. Thời kỳ nầy chỉ là một thời kỳ hỗn độn của thơ mới, nó phải đi cong quanh một lúc rồi trở lại theo đường thẳng mà tiến lên, làm vẻ vang cho nền văn học của chúng ta cho mà xem!
Sao mà dám chắc thế?
Vì một thể thơ đã sản xuất được những bài như của Xuân Diệu, của Thế Lữ thì không có thể nào nửa chừng bỗng tiêu diệt đi được, chết đi được, tha hồ cho ai ra sức đánh đổ nó, đang tay bóp cổ nó!
{{phải|'''PHAN KHÔI'''}}
}}
[[Thể loại:Bài báo]]
11hnxmsw9xmrbg5vb716505epq4yutz
Trở lại cuộc phê bình sách Nguyễn Trãi: Ông Trúc Khê không đủ lẽ để binh vực tác phẩm của mình
0
24073
67551
2019-01-22T11:21:06Z
Tranminh360
1642
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = Trở lại cuộc phê bình sách Nguyễn Trãi: Ông Trúc Khê không đủ lẽ để binh vực tác phẩm của mì…”
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Trở lại cuộc phê bình sách Nguyễn Trãi: Ông Trúc Khê không đủ lẽ để binh vực tác phẩm của mình
| tác giả = Phan Khôi
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1941
| ấn bản = có
| ghi chú = Bài đăng trên ''Dân báo'', Sài Gòn, số 651 (23 Août 1941), trang 1, 4; số 653 (26 Août 1941), trang 1, 2.
}}
{{văn|
{{g|'''I'''}}
Vào cuối tháng Avril năm nay, tôi có ba bài trên ''Dân báo'', phê bình cuốn ''Nguyễn Trãi'' của ông [[Tác gia:Ngô Văn Triện|Trúc Khê]] vừa xuất bản, liệt vào trong “Tủ sách Tao Đàn” của nhà in Tân Dân, Hà Nội.
Đại ý ba bài phê bình, tôi công kích tác giả sách ấy không có cái “thức” trong việc chép sử mà một nhà chép sử đáng lẽ phải có.
Sau đó trong báo ''Nước Nam'' ở Hà Nội, là báo do ông Trúc Khê chủ trương, tôi thấy có ba bài phản đối lại bài phê bình của tôi mà lời lẽ lúng túng lắm, không có một luận chứng nào đứng vững được. Đã vậy mà lại còn có thái độ xiên xỏ, mượn một câu “thành ngữ” bâng quơ do mấy kẻ tiểu nhân cố ý bịa đặt ra là câu “lý luận Phan Khôi” để lên đầu bài văn làm quáng mắt độc giả nữa. Tôi cho rằng nói với một người không biết phục thiện như ông Trúc Khê thì nói nữa cũng vô ích cho nên tôi làm thinh.
Làm thinh, tự tôi nghĩ rằng không muốn hay không thèm biện luận với bên đối phương là ông Trúc Khê, nhưng tự người ngoài, có lẽ họ lại nghĩ rằng tôi chịu thua ông ấy: Ông ấy có lẽ phải hơn tôi, cho nên tôi không cãi lại được.
Cái bằng chứng của sự nghi ngờ ấy là mới đây có một độc giả ở Bắc lấy ba bài của ông Trúc Khê gởi cho tôi kèm với một bức thư, trách tôi sao có dứt ngang nửa chừng một cuộc biện luận, hay là vì đã đuối lý?
Do lời trách của vị độc giả ấy, tôi bị bắt buộc phải trở lại vụ phê bình nầy là vụ đã bỏ nguội từ lâu.
{{ba sao}}
Nhắc lại đại khái bài phê bình sách ''?Nguyễn Trãi'' của tôi, tôi cho tác giả không có “thức”, vì rằng sách ấy là một thể sử, cốt làm cho nẩy sự thực ra, mà tác giả lại xen vào trong đó nhiều điều mê tín.
Thật thế, trong ''Nguyễn Trãi'' có những chỗ nói về thuật coi thiên văn, về thuật phong thủy, tác giả viết như là mình có chứng kiến tận mắt, tin theo những lời truyền thuyết hoang đường một cách mù quáng, có thể đưa kẻ đọc trở về thời đại thần thoại, phản khoa học. Tôi không chịu được sự giật lùi ấy, tôi phải công kích.
Trong bài phê bình, tôi có nói: Cuốn ''Nguyễn Trãi'' của ông Trúc Khê có cái nhan phụ là “danh nhân truyện ký”, kỳ thật cũng thuộc về loại “lịch sử ký sự” (récit historique). Câu ấy tôi chỉ có ý buộc cuốn ''Nguyễn Trãi'' vào trong loại sách lịch sử phải viết đúng sự thực, nhưng nói thế không được đúng, vậy tôi phải sửa lại ở đây.
Số là lịch sử có nhiều thể phụ dung, mà trong đó, danh nhân truyện ký và lịch sử ký sự là hai thể. Danh nhân truyện ký theo tiếng Pháp là “Vie des grands hommes” hay “Biographies”; còn lịch sử ký sự là “Récit historique”. Vậy mà tôi nói danh nhân truyện ký thuộc về lịch sử ký sự là không đúng.
Sự lầm lỗi ấy vì tôi thấy trong sách ''Nguyễn Trãi'' ông Trúc Khê chép tả một cuộc khởi binh phục quốc của đời Lê Thái Tổ nên tôi cho là thuộc về lịch sử ký sự. Tuy vậy, nói như thế là hàm hỗn, không phân minh, bị ông Trúc Khê chê là “võ đoán”, phải lắm, tôi không cãi chỗ đó.
Thật ra thì danh nhân truyện ký chép về người, trọng bên người hơn; lịch sử ký sự chép về việc, trọng bên việc hơn. Hai thể phân biệt nhau tại chỗ việc và người. Nó là hai, không là một được.
Mặc dầu tôi có lầm lộn một chút đó cũng chẳng có hại gì về đại thể của toàn bài. Vì ý tôi chỉ buộc phải viết theo sự thực: danh nhân truyện ký với lịch sử ký sự có là một cũng phải viết theo sự thực, mà danh nhân truyện ký với lịch sử ký sự có là hai đi nữa cũng phải viết theo sự thực.
Ông Trúc Khê nói danh nhân truyện ký là “la vie romancée des grands hommes” thì lại có một điều mậu ngộ và xuyên tạc không đáng được dung thứ.
“Romancée” nghĩa là “tiểu thuyết hóa”. Ai cho ông tiểu thuyết hóa trong khi chép lại chuyện một người có thật, một người trên lịch sử như ông Nguyễn Trãi? Đó là ông Trúc Khê nhân túng rồi đâm bướng.
Vẫn biết rằng lời ông nói đó bởi căn cứ ở tư triều văn học nước Pháp gần nay, nhưng vẫn không được.
Chừng gần mươi năm trở lại đây ở bên Pháp có một bọn văn sĩ sáng tạo một văn thể mới: viết tiểu sử của những người hữu danh đời xưa mà dặm giọng tiểu thuyết vào, gọi là “la vie romancée”. Bởi viết theo sự thực thì khô khan và đúng đắn quá, độc giả không thích đọc, nên họ pha vào ít nhiều màu mè của tiểu thuyết làm cho độc giả hoan nghinh. Độc giả dầu có hoan nghinh thứ “truyện ký tiểu thuyết hóa” ấy nó cũng sẽ không độc lập làm một văn thể trong văn học Pháp quốc được, vì nó có thể phá hoại cái nền nếp của lịch sử. Đó là tôi nói theo một dư luận có uy quyền trong làng văn Pháp khi người ta phê bình cái văn thể mới mẻ ấy.
Nói “mới mẻ” vì “la vie romancée”, cái văn thể ấy vốn không có trong văn học nước Pháp từ trước. Người ta nếu không tin, thử mở tự vị “Larousse” ra xem, mà là thứ lớn kia nữa, cũng chưa hề có cái chữ “romancée” là chữ mà bọn họ mới đặt ra ấy.
Dựa theo một văn thể mới bên Pháp để có đường cho cái tác phẩm của mình là danh nhân truyện ký mà có thể nói như tiểu thuyết được, đó là cái mục đích của ông Trúc Khê; nhưng theo tôi giải bày trên đây thì cái chỗ dựa ấy của ông đã đổ rồi, cái mục đích ấy của ông đã chẳng đạt được rồi.
{{g|'''II'''}}
Ông Trúc Khê còn nói không cần viện vào chữ Pháp, cứ nội chữ nho cũng thấy được: hai danh từ “danh nhân truyện ký” và “lịch sử ký sự” khác nhau. Rồi ông cân nhắc hai bên, ông thấy ra bên có chữ “sự” phải viết đúng sự thực hơn bên có chữ “truyện”.
Rõ thật là độn từ. À, hay là ông Trúc Khê hiểu nghĩa chữ “truyện” theo An Nam ta chăng? Chữ “truyện” trong tiếng An Nam, có nghĩa là tiểu thuyết, tiện việc cho ông Trúc Khê lắm. Nhưng bốn chữ “danh nhân truyện ký” là một danh từ của sử học Trung Hoa, nó phải có nghĩa là chép những sự thực, chứ không được pha vào giọng tiểu thuyết.
Cắt nghĩa hai chữ “truyện ký”, ông Trúc Khê mượn lời của Húc Đạt Phu<ref>Úc Đạt Phu 郁 達 夫 (1896-1945)</ref>, văn sĩ {{SIC|Đâu|Tàu}} hiện thời, nói như vầy:
“Lối văn truyện ký tức là một thứ tác phẩm về nghệ thuật, yếu điểm của nó không phải ở chỗ ghi chép kỹ càng về sự thực như là loại sách khoa học, v.v…”
Lời của Húc Đạt Phu đó, tôi chưa được thấy, tôi không dám tin. Tôi tưởng phải vì có lẽ gì nên Húc Đạt Phu mới nói thế, hoặc giả cũng nói về thứ truyện ký tiểu thuyết hóa chăng; chứ nếu nói về thể truyện ký mà bảo không trọng ở chỗ ghi chép sự thực, thì dầu người nói đó là ông Khổng Tử nữa, tôi cũng phản đối, đừng nói Húc Đạt Phu!
Huống chi trong câu ấy nói “yếu điểm của nó không phải ở chỗ ghi chép kỹ càng về sự thực” – cho rằng ông Trúc Khê dịch đúng nguyên văn như thế – thì cũng chỉ không ghi đủ mọi sự thực đáng ghi mà thôi, chứ có thể nào vịn lấy đó mà tương những điều hoang đường mê tín vào trong tác phẩm của mình.
Còn lấy chứng cứ khác nữa, rút cuộc ông Trúc Khê kết luận rằng: “Xem thế thì loại sách truyện ký, nếu người viết muốn, có thể viết rất gần như tiểu thuyết; còn người đọc truyện ký, nếu có lý trí, không ai lại đọc nó bằng cách đọc lịch sử và coi nó tức là lịch sử bao giờ”.
Nói tóm lại, trước sau ông Trúc Khê chỉ có một ý là làm cho truyện ký thành ra tiểu thuyết hóa để tiện cho mình đem những chuyện huyễn hoặc vô kể vào trong tác phẩm.
Dầu thế nào nữa, cái thuyết ấy cũng vẫn không thành lập được. Là vì, lịch sử là lịch sử, mà tiểu thuyết là tiểu thuyết, cái giới hạn nó rất nghiêm, cái gì đã thuộc về lịch sử không thể đem mà tiểu thuyết hóa, trừ khi người ta viết hẳn ra thể lịch sử tiểu thuyết.
Danh nhân truyện ký không là lịch sử, nhưng nó cũng như lịch sử ký sự, thuộc về lịch sử, làm phụ dung của lịch sử. Vậy thì người viết nó không được phép tự ý gia vào đó những cái màu mè như màu mè của tiểu thuyết.
Sợ có kẻ không hiểu những chữ “thuộc về” và “phụ dung” là thế nào, tôi phải nói thêm rằng: Một mình lịch sử không đủ nên nó phải có những loại sách làm vây cánh cho nó. Là như những sách chép về điển chương chế độ, chép về địa dư, chép về đời một người nào (danh nhân truyện ký) và riêng một việc nào (lịch sử ký sự). Những sách ấy, trong khi phân loại, người ta phải để nó về loại sử, vì nó có thể giúp cho sử vậy.
Đã vậy thì trong khi chép những loại sách ấy, người ta không theo hẳn cái phương pháp chép sử nhưng phải quán xuyến trong đó cái tinh thần của ngòi bút chép sử, nghĩa là phải tôn trọng sự thực. Vậy nếu truyện ký mà không coi sự thực ra gì, nhứt là làm nó ra tiểu thuyết thì đã mất hẳn cái giá trị của nó rồi.
Có lẽ ông Trúc Khê lúc đầu viết ra cuốn ''Nguyễn Trãi'' ông cũng nghĩ như tôi vừa nói trên đây. Có điều, đến khi làm việc vượt ra ngoài quy tắc, bị tôi công kích, ông không sẵn lòng phục thiện nên mới vơ quàng vơ xiên, kiếm những cái trụ cột không được vững mấy cũng tựa lấy để mà binh vực cho cái tác phẩm của mình.
Sao mà biết thế? Chính ông Trúc Khê, tác giả sách ''Nguyễn Trãi'', đã khai điều đó ra cho tôi và cho mọi người đọc sách của ông.
Sau sách ''Nguyễn Trãi'' ông Trúc Khê liệt ra đến hai ba chục cái tên sách là những sách, từ đó, ông đã lấy tài liệu ra viết cuốn ''Nguyễn Trãi''.
Liệt ra như thế để làm gì? Có phải là ông Trúc Khê muốn phân bua với chúng ta rằng ông ấy viết cuốn ''Nguyễn Trãi'' là theo sự thực mà viết ra, hết thảy những điều ghi chép đều có nguồn gốc ở trong mấy chục thứ sách đó chứ không phải ông bịa đặt ra? Nếu thật quả ông đã đem mà tiểu thuyết hóa cả cái đời ông Nguyễn Trãi thì kê ra làm gì một dọc dài những sách ấy? Xưa nay chưa hề thấy có tác giả nào viết một cuốn tiểu thuyết hay một cuốn gần như tiểu thuyết mà lại chưng bày ra hằng mấy chục pho sách xưa mà mình đã dẫn dụng.
Tôi nói đến chỗ đó mà ông Trúc Khê còn không chịu nữa thì ông ấy quả là một người chẳng có chút lòng ngay thực nào, tôi chẳng còn muốn biện luận với ông làm chi.
Trong cuộc biện luận nầy, cái yếu điểm chỉ có chỗ đó, là chỗ tôi bảo ''Nguyễn Trãi'' là sách thuộc về lịch sử nên phải viết đúng sự thực, còn ông Trúc Khê bảo nó không phải lịch sử nên không cần viết đúng sự thực. Nay tôi đã viết đến hai bài, làm cho rõ thêm cái chỗ lập luận của tôi, thế là xong việc của tôi rồi, vậy tôi xin chấm dứt ở đây.
Còn bao nhiêu những lời rườm rà, nhứt là những lời bất chánh đáng của ông Trúc Khê, như đay đi đay lại mấy tiếng “lý luận Phan Khôi”, tôi cho là hèn lắm, không đáng kể, thì tôi đều bỏ qua hết.
{{phải|'''PHAN KHÔI'''}}
}}
{{chú thích cuối trang}}
[[Thể loại:Bài báo]]
c2iqoxoub2rx8s5hqcc0fcwehmrkq5v
67552
67551
2019-01-22T11:26:32Z
Tranminh360
1642
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Trở lại cuộc phê bình sách ''Nguyễn Trãi'': Ông Trúc Khê không đủ lẽ để binh vực tác phẩm của mình
| tác giả = Phan Khôi
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1941
| ấn bản = có
| ghi chú = Bài đăng trên ''Dân báo'', Sài Gòn, số 651 (23 Août 1941), trang 1, 4; số 653 (26 Août 1941), trang 1, 2.
}}
{{văn|
{{g|'''I'''}}
Vào cuối tháng Avril năm nay, tôi có ba bài trên ''Dân báo'', phê bình cuốn ''Nguyễn Trãi'' của ông [[Tác gia:Ngô Văn Triện|Trúc Khê]] vừa xuất bản, liệt vào trong “Tủ sách Tao Đàn” của nhà in Tân Dân, Hà Nội.
Đại ý ba bài phê bình, tôi công kích tác giả sách ấy không có cái “thức” trong việc chép sử mà một nhà chép sử đáng lẽ phải có.
Sau đó trong báo ''Nước Nam'' ở Hà Nội, là báo do ông Trúc Khê chủ trương, tôi thấy có ba bài phản đối lại bài phê bình của tôi mà lời lẽ lúng túng lắm, không có một luận chứng nào đứng vững được. Đã vậy mà lại còn có thái độ xiên xỏ, mượn một câu “thành ngữ” bâng quơ do mấy kẻ tiểu nhân cố ý bịa đặt ra là câu “lý luận Phan Khôi” để lên đầu bài văn làm quáng mắt độc giả nữa. Tôi cho rằng nói với một người không biết phục thiện như ông Trúc Khê thì nói nữa cũng vô ích cho nên tôi làm thinh.
Làm thinh, tự tôi nghĩ rằng không muốn hay không thèm biện luận với bên đối phương là ông Trúc Khê, nhưng tự người ngoài, có lẽ họ lại nghĩ rằng tôi chịu thua ông ấy: Ông ấy có lẽ phải hơn tôi, cho nên tôi không cãi lại được.
Cái bằng chứng của sự nghi ngờ ấy là mới đây có một độc giả ở Bắc lấy ba bài của ông Trúc Khê gởi cho tôi kèm với một bức thư, trách tôi sao có dứt ngang nửa chừng một cuộc biện luận, hay là vì đã đuối lý?
Do lời trách của vị độc giả ấy, tôi bị bắt buộc phải trở lại vụ phê bình nầy là vụ đã bỏ nguội từ lâu.
{{ba sao}}
Nhắc lại đại khái bài phê bình sách ''Nguyễn Trãi'' của tôi, tôi cho tác giả không có “thức”, vì rằng sách ấy là một thể sử, cốt làm cho nẩy sự thực ra, mà tác giả lại xen vào trong đó nhiều điều mê tín.
Thật thế, trong ''Nguyễn Trãi'' có những chỗ nói về thuật coi thiên văn, về thuật phong thủy, tác giả viết như là mình có chứng kiến tận mắt, tin theo những lời truyền thuyết hoang đường một cách mù quáng, có thể đưa kẻ đọc trở về thời đại thần thoại, phản khoa học. Tôi không chịu được sự giật lùi ấy, tôi phải công kích.
Trong bài phê bình, tôi có nói: Cuốn ''Nguyễn Trãi'' của ông Trúc Khê có cái nhan phụ là “danh nhân truyện ký”, kỳ thật cũng thuộc về loại “lịch sử ký sự” (récit historique). Câu ấy tôi chỉ có ý buộc cuốn ''Nguyễn Trãi'' vào trong loại sách lịch sử phải viết đúng sự thực, nhưng nói thế không được đúng, vậy tôi phải sửa lại ở đây.
Số là lịch sử có nhiều thể phụ dung, mà trong đó, danh nhân truyện ký và lịch sử ký sự là hai thể. Danh nhân truyện ký theo tiếng Pháp là “Vie des grands hommes” hay “Biographies”; còn lịch sử ký sự là “Récit historique”. Vậy mà tôi nói danh nhân truyện ký thuộc về lịch sử ký sự là không đúng.
Sự lầm lỗi ấy vì tôi thấy trong sách ''Nguyễn Trãi'' ông Trúc Khê chép tả một cuộc khởi binh phục quốc của đời Lê Thái Tổ nên tôi cho là thuộc về lịch sử ký sự. Tuy vậy, nói như thế là hàm hỗn, không phân minh, bị ông Trúc Khê chê là “võ đoán”, phải lắm, tôi không cãi chỗ đó.
Thật ra thì danh nhân truyện ký chép về người, trọng bên người hơn; lịch sử ký sự chép về việc, trọng bên việc hơn. Hai thể phân biệt nhau tại chỗ việc và người. Nó là hai, không là một được.
Mặc dầu tôi có lầm lộn một chút đó cũng chẳng có hại gì về đại thể của toàn bài. Vì ý tôi chỉ buộc phải viết theo sự thực: danh nhân truyện ký với lịch sử ký sự có là một cũng phải viết theo sự thực, mà danh nhân truyện ký với lịch sử ký sự có là hai đi nữa cũng phải viết theo sự thực.
Ông Trúc Khê nói danh nhân truyện ký là “la vie romancée des grands hommes” thì lại có một điều mậu ngộ và xuyên tạc không đáng được dung thứ.
“Romancée” nghĩa là “tiểu thuyết hóa”. Ai cho ông tiểu thuyết hóa trong khi chép lại chuyện một người có thật, một người trên lịch sử như ông Nguyễn Trãi? Đó là ông Trúc Khê nhân túng rồi đâm bướng.
Vẫn biết rằng lời ông nói đó bởi căn cứ ở tư triều văn học nước Pháp gần nay, nhưng vẫn không được.
Chừng gần mươi năm trở lại đây ở bên Pháp có một bọn văn sĩ sáng tạo một văn thể mới: viết tiểu sử của những người hữu danh đời xưa mà dặm giọng tiểu thuyết vào, gọi là “la vie romancée”. Bởi viết theo sự thực thì khô khan và đúng đắn quá, độc giả không thích đọc, nên họ pha vào ít nhiều màu mè của tiểu thuyết làm cho độc giả hoan nghinh. Độc giả dầu có hoan nghinh thứ “truyện ký tiểu thuyết hóa” ấy nó cũng sẽ không độc lập làm một văn thể trong văn học Pháp quốc được, vì nó có thể phá hoại cái nền nếp của lịch sử. Đó là tôi nói theo một dư luận có uy quyền trong làng văn Pháp khi người ta phê bình cái văn thể mới mẻ ấy.
Nói “mới mẻ” vì “la vie romancée”, cái văn thể ấy vốn không có trong văn học nước Pháp từ trước. Người ta nếu không tin, thử mở tự vị “Larousse” ra xem, mà là thứ lớn kia nữa, cũng chưa hề có cái chữ “romancée” là chữ mà bọn họ mới đặt ra ấy.
Dựa theo một văn thể mới bên Pháp để có đường cho cái tác phẩm của mình là danh nhân truyện ký mà có thể nói như tiểu thuyết được, đó là cái mục đích của ông Trúc Khê; nhưng theo tôi giải bày trên đây thì cái chỗ dựa ấy của ông đã đổ rồi, cái mục đích ấy của ông đã chẳng đạt được rồi.
{{g|'''II'''}}
Ông Trúc Khê còn nói không cần viện vào chữ Pháp, cứ nội chữ nho cũng thấy được: hai danh từ “danh nhân truyện ký” và “lịch sử ký sự” khác nhau. Rồi ông cân nhắc hai bên, ông thấy ra bên có chữ “sự” phải viết đúng sự thực hơn bên có chữ “truyện”.
Rõ thật là độn từ. À, hay là ông Trúc Khê hiểu nghĩa chữ “truyện” theo An Nam ta chăng? Chữ “truyện” trong tiếng An Nam, có nghĩa là tiểu thuyết, tiện việc cho ông Trúc Khê lắm. Nhưng bốn chữ “danh nhân truyện ký” là một danh từ của sử học Trung Hoa, nó phải có nghĩa là chép những sự thực, chứ không được pha vào giọng tiểu thuyết.
Cắt nghĩa hai chữ “truyện ký”, ông Trúc Khê mượn lời của Húc Đạt Phu<ref>Úc Đạt Phu 郁 達 夫 (1896-1945)</ref>, văn sĩ {{SIC|Đâu|Tàu}} hiện thời, nói như vầy:
“Lối văn truyện ký tức là một thứ tác phẩm về nghệ thuật, yếu điểm của nó không phải ở chỗ ghi chép kỹ càng về sự thực như là loại sách khoa học, v.v…”
Lời của Húc Đạt Phu đó, tôi chưa được thấy, tôi không dám tin. Tôi tưởng phải vì có lẽ gì nên Húc Đạt Phu mới nói thế, hoặc giả cũng nói về thứ truyện ký tiểu thuyết hóa chăng; chứ nếu nói về thể truyện ký mà bảo không trọng ở chỗ ghi chép sự thực, thì dầu người nói đó là ông Khổng Tử nữa, tôi cũng phản đối, đừng nói Húc Đạt Phu!
Huống chi trong câu ấy nói “yếu điểm của nó không phải ở chỗ ghi chép kỹ càng về sự thực” – cho rằng ông Trúc Khê dịch đúng nguyên văn như thế – thì cũng chỉ không ghi đủ mọi sự thực đáng ghi mà thôi, chứ có thể nào vịn lấy đó mà tương những điều hoang đường mê tín vào trong tác phẩm của mình.
Còn lấy chứng cứ khác nữa, rút cuộc ông Trúc Khê kết luận rằng: “Xem thế thì loại sách truyện ký, nếu người viết muốn, có thể viết rất gần như tiểu thuyết; còn người đọc truyện ký, nếu có lý trí, không ai lại đọc nó bằng cách đọc lịch sử và coi nó tức là lịch sử bao giờ”.
Nói tóm lại, trước sau ông Trúc Khê chỉ có một ý là làm cho truyện ký thành ra tiểu thuyết hóa để tiện cho mình đem những chuyện huyễn hoặc vô kể vào trong tác phẩm.
Dầu thế nào nữa, cái thuyết ấy cũng vẫn không thành lập được. Là vì, lịch sử là lịch sử, mà tiểu thuyết là tiểu thuyết, cái giới hạn nó rất nghiêm, cái gì đã thuộc về lịch sử không thể đem mà tiểu thuyết hóa, trừ khi người ta viết hẳn ra thể lịch sử tiểu thuyết.
Danh nhân truyện ký không là lịch sử, nhưng nó cũng như lịch sử ký sự, thuộc về lịch sử, làm phụ dung của lịch sử. Vậy thì người viết nó không được phép tự ý gia vào đó những cái màu mè như màu mè của tiểu thuyết.
Sợ có kẻ không hiểu những chữ “thuộc về” và “phụ dung” là thế nào, tôi phải nói thêm rằng: Một mình lịch sử không đủ nên nó phải có những loại sách làm vây cánh cho nó. Là như những sách chép về điển chương chế độ, chép về địa dư, chép về đời một người nào (danh nhân truyện ký) và riêng một việc nào (lịch sử ký sự). Những sách ấy, trong khi phân loại, người ta phải để nó về loại sử, vì nó có thể giúp cho sử vậy.
Đã vậy thì trong khi chép những loại sách ấy, người ta không theo hẳn cái phương pháp chép sử nhưng phải quán xuyến trong đó cái tinh thần của ngòi bút chép sử, nghĩa là phải tôn trọng sự thực. Vậy nếu truyện ký mà không coi sự thực ra gì, nhứt là làm nó ra tiểu thuyết thì đã mất hẳn cái giá trị của nó rồi.
Có lẽ ông Trúc Khê lúc đầu viết ra cuốn ''Nguyễn Trãi'' ông cũng nghĩ như tôi vừa nói trên đây. Có điều, đến khi làm việc vượt ra ngoài quy tắc, bị tôi công kích, ông không sẵn lòng phục thiện nên mới vơ quàng vơ xiên, kiếm những cái trụ cột không được vững mấy cũng tựa lấy để mà binh vực cho cái tác phẩm của mình.
Sao mà biết thế? Chính ông Trúc Khê, tác giả sách ''Nguyễn Trãi'', đã khai điều đó ra cho tôi và cho mọi người đọc sách của ông.
Sau sách ''Nguyễn Trãi'' ông Trúc Khê liệt ra đến hai ba chục cái tên sách là những sách, từ đó, ông đã lấy tài liệu ra viết cuốn ''Nguyễn Trãi''.
Liệt ra như thế để làm gì? Có phải là ông Trúc Khê muốn phân bua với chúng ta rằng ông ấy viết cuốn ''Nguyễn Trãi'' là theo sự thực mà viết ra, hết thảy những điều ghi chép đều có nguồn gốc ở trong mấy chục thứ sách đó chứ không phải ông bịa đặt ra? Nếu thật quả ông đã đem mà tiểu thuyết hóa cả cái đời ông Nguyễn Trãi thì kê ra làm gì một dọc dài những sách ấy? Xưa nay chưa hề thấy có tác giả nào viết một cuốn tiểu thuyết hay một cuốn gần như tiểu thuyết mà lại chưng bày ra hằng mấy chục pho sách xưa mà mình đã dẫn dụng.
Tôi nói đến chỗ đó mà ông Trúc Khê còn không chịu nữa thì ông ấy quả là một người chẳng có chút lòng ngay thực nào, tôi chẳng còn muốn biện luận với ông làm chi.
Trong cuộc biện luận nầy, cái yếu điểm chỉ có chỗ đó, là chỗ tôi bảo ''Nguyễn Trãi'' là sách thuộc về lịch sử nên phải viết đúng sự thực, còn ông Trúc Khê bảo nó không phải lịch sử nên không cần viết đúng sự thực. Nay tôi đã viết đến hai bài, làm cho rõ thêm cái chỗ lập luận của tôi, thế là xong việc của tôi rồi, vậy tôi xin chấm dứt ở đây.
Còn bao nhiêu những lời rườm rà, nhứt là những lời bất chánh đáng của ông Trúc Khê, như đay đi đay lại mấy tiếng “lý luận Phan Khôi”, tôi cho là hèn lắm, không đáng kể, thì tôi đều bỏ qua hết.
{{phải|'''PHAN KHÔI'''}}
}}
{{chú thích cuối trang}}
[[Thể loại:Bài báo]]
b8ju8856wb70hqkhulrvckxvb510nuj